Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Tôi có nhiều điều để mong chờ

Tôi có nên đặt niềm tin của tôi cho các nhà xã hội học, cho các lí thuyết xã hội học và phương pháp nghiên cứu của nó? Nhưng hình như việc lựa chọn đặt niềm tin vào đâu không phải là quyền hạn của tôi. Trong giới hạn suy nghĩ của mình, tôi chỉ xác định được rằng: nếu các phương pháp xã hội học đã có thể đo lường thành công thái độ, tình cảm hay các yếu tố khác có bản chất định tính, thì các nhà xã hội học sẽ giúp tôi chỉ ra được giới hạn ở mọi mặt đời sống của tôi, và của xã hội. Phạm vi đời sống của xã hội khi đó sẽ thật sự là một "không gian n chiều" với mỗi chiều của nó, xác định được giới hạn rõ ràng khi đi vào trường hợp cụ thể. Hình ảnh của một xã hội hoạt động sẽ hiện ra đầy đủ.

Tôi không phải là kẻ đi lạc thời đại qua mức, để không biến đến những chỉ số hạnh phúc mà các nhà khoa học trên toàn cầu đã tìm ra. Những chỉ số đó thật sự có thể giúp khám phá ra giới hạn của đời sống hiện đại. Tôi vẫn nghĩ quan trọng là phương pháp sử dụng những chỉ số đó. Khi có kết quả nói rằng Việt Nam là nước hạnh phúc nhất thế giới, nhiều người đã bật cười. Quan trọng là cách người ta đo đạc và mục tiêu thật sự. Tôi hi vọng đến một kết quả toàn diện. Vì tôi cho rằng chỉ khi hiểu biết toàn diện về đời sống thì mới quản lý được nó. Tôi hi vọng có được một sự quản lí toàn diện và chi tiết đời sống xã hội. Đó là hi vọng, và vấn đề của hi vọng đó là có thực hiện được nó từ việc hiểu biết sâu sắc và chắc chắn phạm vi của đời sống xã hội hay không.

Phạm vi đời sống cá nhân, hay phạm vi đời sống cộng đồng và xã hội thật sự có quan hệ với nhau theo phạm trù của triết học. Đo lường ở mức cá nhân hay xã hội thật sự đều không phải là đơn giản vì ngay quá trình đo lường cũng không giới hạn cho người thực hiện bao nhiêu đại lượng - khái niệm. Tiếp theo là sự mù dở khi triển khai khái niệm thành các chiều kích. Không có điểm bắt đầu và kết thúc. Tôi vẫn hi vọng.

Trong nhiều trường hợp đã xảy ra thường xuyên trong các ngành khác, người ta chỉ cần sử dụng một hệ thống các đại lượng nhất định để đo đạc. Tôi nghĩ rằng cũng có thể làm thế khi đo lường một khía cạnh nhất định của phạm vi đời sống. Và điều đó thì nhiều rồi, đã thành kinh điển.

Khách quan hay không khách quan, dường như mọi thứ chỉ có thể xác định khi công việc thực hiện được. Tôi sẽ cứ để ở đây mọi thứ trong hi vọng. Giả thuyết mang trong nó niềm hi vọng.

Sự thật đời sống có khi nào, khi trở nên lý thuyết hóa, trở thành thứ phi thực tế? Tôi đang hỏi chứ không nhằm mục đích gì khác. Bàn tay tôi trắng. Sự thật diễn ra rằng quản lý đời sống là một điều tất yếu xảy ra ở mọi mặt đời sống, mọi phân tầng và mọi lĩnh vực xã hội. Tôi thấy người ta đề ra sự quản lí tổng hợp và sự quản lý chuyên sâu. Cũng hợp lý. Nhưng tôi chỉ e sợ đó là cái vỏ ngoài hợp lý của những bất cập trong lòng. Vấn đề quay ngược ở lại nội hàm của phạm vi đời sống. Mọi cá nhân, nhóm cá nhân, tập đoàn người và toàn xã hội đều có phạm vi đời sống riêng - ý tôi là tôi đang cho đây là giả thuyết - thì phạm vi đời sống ấy cụ thể gồm cái gì? Nếu ở đó có đời sống vật chất và đời sống tinh thần, thì bên trong từng thứ ấy có gì nữa? Tôi nghĩ rằng phân chia hời hợt thì quản lý sẽ hời hợt. Thực tiễn đời sống bộc lộ rất rõ, nhưng tôi lại e sợ rằng thực tế lý thuyết không phản ánh đầy đủ. Khi không hiểu, không thể làm gì. Khi hiểu không rõ, sẽ làm bậy hay lần mò. Chắc đó là lúc chủ nghĩa kinh nghiệm xuất hiện. Ông Thanh Lê đã lên tiếng phê phán xã hội học Mỹ mang tính "kinh nghiệm chủ nghĩa", "tan vỡ thành từng mảnh". Chỉ e là ở đâu đó, sự quản lí xã hội, lý thuyết quản lý xã hội cũng đầy "kinh nghiệm", tự trải nghiệm hay học lại từ nơi khác, và "vỡ tan thành từng mảnh" (mảnh lĩnh vực và mạnh địa lí?) hay theo một mục đích nào khác. Mà chắc là không, tôi chỉ e sợ.

Tôi đang hi vọng rằng quản lý được thực hiện từ sự hiểu biết về đời sống. Phải, như tôi còn nhắc lại nhiều lần nữa. Tôi hi vọng vì tôi thấy điều đấy khó, khó bởi tính chất của phạm vi đời sống: (1) không có điểm bắt đầu và kết thúc cho một cuộc truy tìm, (2) có quá nhiều mức độ của đối tượng để tìm hiểu - cá nhân, nhóm cá nhân, tập đoàn người hay theo phạm vi địa lý... Mà có khi phạm vi địa lý là một chiều trong n chiều của phạm vi đời sống. Không phải chỉ là quản lý tổng hợp hay quản lý chuyên sâu, mà còn là quản lý ở mức độ nào của  tập thể cộng đồng xã hội. Đương nhiên, quản lý đời sống xã hội là quản lý cả một cộng đồng to lớn. Nhưng sự tôn trọng của nhà quản lý đặt vào đâu nơi cộng đồng? Họ đặt vào từng cá nhân, từng gia đình, từng nhóm xã hội, từng nhóm lợi ích hay theo một ý đồ nào khác là cách riêng của họ. Ví dụ người ta có thể quy hoạch những cơ sở thiết yếu (trường học, bệnh viện, chợ búa...) ra ngoại thành để thay đổi sự di chuyển của từng cá nhân, thay đổi hệ thống giao thông mà không cần biết đến điều kiện của những cá nhân bị ảnh hưởng. Người ta thực hiện điều đó vì sự tôn trọng với một điều khác như kinh tế, chính trị... Họ có nhiều cách để đạt được điều họ muốn, cho dù cách của họ tỏ ra không thông minh.

Tôi đã che giấu một điều từ những dòng đầu cho đến đây. Khả độc giả nào biết có thể nhận ra, là tôi đã đem "không gian n chiều" từ sinh thái học qua đây. Tôi thấy mô hình ấy hay, và khi áp dụng cho con người, n chiều sẽ thành n + n + ... + n chiều. (Hay cũng chỉ là n chiều thôi? Vì con người đôi khi tự cho mình có đời sống xã hội phong phú hơn loài vật.) Môi trường sống của con người, xã hội người chính là môi trường n chiều đó. Quản lý đời sống, dựa trên hiểu biết về phạm vi đời sống, chính là sự quản lý môi trường sống n chiều của con người.  Cá nhân quản lý đời sống riêng vì nhu cầu của cá nhân. Còn việc quản lý xã hội lại vì con người ở nhiều mức độ: con người cá nhân, con người trong tập thể, con người trong xã hội. Tôi có nhiều điều để chờ mong.

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013

không thể viết nhiều - khi muốn tạo ra tính tiêu cực trong vấn đề thì chỉ cần không thừa nhận

Tôi luôn cố giữ gìn trạng thái suy tư của bản thân. Não bộ phải hoạt động. Vì điều đó khiến tôi có cảm giác mình đang sống. Mỗi ngày tôi suy nghĩ nhiều hơn, chính như đó là ước mơ của riêng tôi. Hay là thứ mang lại cho tôi cảm giác nhân bản trong đời sống.

Tôi không muốn chính mình tự bó hẹp mình. Phạm vi đời sống của tôi phải ngày càng được mở rộng. Ít nhất là về mặt lý trí, về khả năng cảm nhận, về sự hiểu biết. Dù cho cũng phải thừa nhận rằng nhiều mặt khác trong đời sống của tôi bị giới hạn. Cảm giác giống như tôi ngồi trong một chiếc hộp có chiều mặt. Người khác nhìn thấy tôi trong không gian với diện mạo như tôi mỗi ngày. Còn tôi nhìn tôi như thế nào nếu không phải nhìn qua các giới hạn của đời sống. Tôi nhìn chính tôi qua khả năng kinh tế: số tiền phải tiêu, qua sức khỏe: thuốc men hằng ngày phải uống, qua khả năng: những gì có thể làm hằng ngày... Hay tôi nhìn mình qua chính đôi mắt của xã hội? Xã hội nhìn tôi qua những gì tôi làm được. Cái nhìn của xã hội khi nào là cái nhìn khách quan? Vì xã hội đâu thấy được nội tâm của tôi. Tôi phải tự nhìn mình như thế nào? Phạm vi đời sống của tôi là một không gian n chiều, những nhiều bị giới hạn: vừa tự do vừa tù túng.

Xã hội học có nói về khác biệt xã hội. "Khác biệt xã hội là gì? Là sự khác biệt giữa các cá nhân trên cơ sở những đặc điểm và đặc trưng xã hội như kinh tế, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, chủng tộc, tuổi, giới tính, v...v..."  Vậy khác biệt xã hội có phải là cơ sở hình thành nơi đời sống của tôi những giới hạn? Hay sự thật diễn ra theo chiều ngược lại? Những giới hạn trong các mặt đời sống của tôi khác với những giới hạn trong đời sống của một ai đó bất kì. Có phải từ đó mà người ta nhìn ra các khác biệt xã hội? Nhưng lỡ những giới hạn đó giống nhau giữa những người khác nhau? Nếu tôi giàu thì cũng có người khác giàu. Nghèo thì không phải chỉ có mình tôi. Kẻ đòi hỏi thưởng thức nghệ thuật không phải có mình tôi và cũng không phải chỉ có mình tôi biết sống trong tình cảm. Từ khi nào những tập đoàn người có chung những đặc điểm nhất định đã hình thành? Tôi không bao giờ muốn đặt nặng vấn đề vật chất hơn vấn đề lý trí trong đời sống, nhất là khi nhìn nhận đời sống xã hội.

Giới hạn hay không giới hạn? Khách quan hay chủ quan? Đến cùng thì tôi không biết. Nếu có ai đó đủ khả năng bóc trần mọi mặt trong đời sống này, tôi mới hiện rõ trước xã hội và trong mắt tôi là tôi đúng hay sai. Có phải khát khao hạnh phúc, khát khao không bị trói buộc trong những nhu cầu thiết yếu nhất và mở rộng nhu cầu là đặc trưng mang chất nhân bản của con người?

Và tôi phải nói gì về "phạm vi đời sống" của cả một cộng đồng hay một xã hội?

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Đầu vào và đầu ra của hệ sinh thái đô thị



Chúng tôi xin được xem xét một cách nhanh chóng về hai trong nhiều khía cạnh của hệ sinh thái mà chúng tôi cho là khá quan trọng. Đó là nguyên liệu và năng lượng. Hệ sinh thái đô thị được xem là một trong hai hệ sinh thái nhân tạo quan trọng và lớn nhất trên Trái đất ( hệ sinh thái đô thị và hệ sinh thái nông nghiệp). Bảng so sánh sau đã nêu ra điểm cốt yếu nhất về đặc tính của hệ sinh thái đô thị, bên cạnh hệ sinh thái nông nghiệp.

Hệ sinh thái
Năng lượng đầu vào
Vật chất tái sinh
Tự nhiên
Năng lượng ánh sáng mặt trời.
Chu trình vật chất tài sinh tự nhiên diễn ra từ từ, phân hủy mùn bã trả lại các chất khoáng trong đất.
Nông nghiệp
Năng lượng mặt trời và năng lượng bổ sung từ nguồn khác.
Một phần sản phầm được thu hoạch (đưa ra khỏi hệ sinh thái nông nghiệp).
Đô thị
Năng lượng được cung cấp như điện than, dầu mỏ, thực phẩm.
Vật chất tái sinh ít, phần lớn sau sử dụng được chôn lấp hoặc chuyển sang hệ sinh thái khác.

Nguyên liệu vật chất và năng lượng của hệ sinh thái đô thị được tổ chức vào thành phần tự nhiên và thành phần nhân tạo. Thành phần nhân tạo trong hệ sinh thái đô thị chiếm ưu thế, do con người tạo nên, làm gia tăng entropy các tiểu phần. Trong khi đó thành phần tự nhiên bao gồm các sinh vật tự phát tán, sinh trưởng và phát triển, thể hiện tính chất tự tổ chức và tự duy trì của hệ sinh thái tự nhiên làm giảm entropy trong hệ thống.

Cũng có thể phân chia các thành phần trong hệ sinh thái đô thị theo cách sau: (1) thành phần hữu sinh: con người và các loài sinh vật trong đô thị; (2) thành phần vô sinh: hệ thống các yếu tố vật lí, chế độ khí hậu; (3) thành phần công nghệ: nhà máy, cơ quan, xí nghiệp, trường học… Nhưng chúng tôi không cho rằng đây là sự phân chia đầy hợp lý vì hệ thống thành phần vô sinh cũng có thể bao gồm các công trình xây dựng gây biến đổi địa hình và khí hậu…

Những so sánh phía trên về năng lượng và nguyên liệu giữa các hệ sinh thái nhân tạo đã làm lộ diện ý niệm về sự bổ sung. Điều đó có nghĩa là đầu vào và đầu ra của hệ sinh thái nhân tạo mang một ý nghĩa lớn hơn hệ sinh thái tự nhiên. Hai mô hình sau rất có ích trong việc nhận diện hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái đô thị.


Số lượng nguyên liệu vật chất và năng lượng trong đầu vào đô thị lớn hơn nhiều so với đầu vào nông nghiệp. Điều đó có nghĩa là hệ sinh thái đô thị nằm ở trạng thái khác biệt so với tự nhiên nhiều hơn hệ sinh thái nông nghiệp. Khối lượng trong đầu ra của hai hệ sinh thái nhân tạo này cũng không giống nhau thể hiện hiệu suất của từng hệ sinh thái. Hệ sinh thái đô thị như vậy tỏ ra là một hệ sinh thái tiêu tốn nhiều thành phần nhân tạo hơn trong khi đó hiệu suất của nó lại thấp hơn hệ sinh thái nông nghiệp. Sự khác biệt giữa đầu vào, đầu ra giữa hai hệ sinh thái trên còn do tính quay vòng vật chất, thông tin trong mỗi hệ sinh thái không giống nhau. Lí giải bằng sơ đồ, các nhà khoa học đã phân tích được đầu vào và đầu ra của hệ sinh thái đô thị như hình sau.


Ethan H. Decker, Scott Elliott, Felisa A. Smith, Donald R. Blake, và F. Sherwood Rowland đã có nghiên cứu kĩ lưỡng. Một cách phân loại mang tính thiết thực hơn cho việc giáo dục đối với các dạng nguyên liệu vật chất đầu vào và đầu ra trong hệ sinh thái đô thị đã được thiết lập. Sự phân loại này không tự nhiên như khi xem xét trên chu trình vật chất phổ biến, nhưng nó gây chú ý đối với cách con người tác động đến hệ sinh thái đô thị.

      Theo đó thì  đầu vào gồm 3 loại:

a.      Đầu vào của các nguyên liệu lưu trữ: các loại vật chất trong quá trình xây dựng, kiến tạo đô thị như gạch, đá, gỗ, thủy tinh, kim loại, xi măng, chất dẻo… Những loại này trở thành một phần cấu trúc. Chi phí xã hội và chi phí môi trường của một cao ốc nhân tạo có thể so sánh với sự duy trì và xoay vòng (turnover) bình thường trong hệ sinh thái tự nhiên.

Một thành phố lớn điển hình  tiêu thụ từ 100-1000 petajoules năng lượng hằng năm để điều khiển sự vận tải, điện lực, thiết bị điều khiển khí hậu của nó. Từ quan điểm về sự thay đổi khí hậu toàn cầu, năng lượng đó rốt cuộc sẽ chuyển sang một sự bức xạ và tích lũy carbonic khí quyển và sự xả thải nhiều dạng khí gas, bụi hạt và chất ô nhiễm nước. Một vài vật liệu xây dựng, cũng như phần còn lại của thức ăn và nguyên liệu dệt, cuối cùng sẽ kết thúc ở dạng lưu trữ ở các hố chôn rác hoặc bị thiêu. Vật rắn và lỏng như đồ thải bỏ để thiêu bao gồm, đó là gỗ (giấy), thủy tinh, kim loại, đồ ăn thừa và nhựa. Ở Mexico City, 43% vật thải rắn là thức ăn thừa, phần lớn còn lại là sản phẩm giấy, thủy tinh và tã lót. Các điểm đến của chất thải cũng trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả của tốc độ thất thoát cho những chất gây ô nhiễm đa dạng. Những chất hóa học hữu cơ không bền lọc qua đất hoặc bề mặt nước hoặc vào khí quyển. Một cách toàn cầu, các hố rác là nguồn chính của  khí  metan “greenhouse gas”. Khí etan và những hydrocarbon khác cũng dc tạo ra và khí quyển oxi hóa của chúng biến đổi phổ quang hóa của hành tinh.

b.      Đầu vào chuyển đổi: là những vật chất quan trọng nhất xâm nhập vào thành phố. Sự chuyển đổi của thức ăn qua các thành phố tác động tới chu trình của nitrogen. Nhiên liệu được sử dụng tác động tới sự chuyển dạng chu trình carbon. Hai nguyên tố carbon và nitrogen cung cấp sinh khối hay/và năng lượng cần thiết cho con người hay công cụ của họ để thực hiện các chức năng, và nó phải được cung cấp một cách hằng định. Sự huy động của con người về lượng carbon và nitrogen là rất lớn và về bản chất gắn với sản phẩm, tổng lượng thức ăn và nhiên liệu, phải được tính trong hệ thống chuẩn để hiểu một cách đầy đủ về chu trình carbon và nitrogen một cách địa phương, vùng miền và toàn cầu.

(1) Thức ăn:  Quá trình đánh giá về sự nhập vào của thức ăn vào các thành phố lớn thường khó khăn bởi sự sản xuất và vận chuyển rất tràn lan. Không có một báo cáo rõ ràng nào của các thành phố lớn về sự sản xuất và tiêu thụ. Số liệu về sự sản xuất thức ăn được tổng kết tại mức quốc gia (country level) có thể phản ánh  rằng những quốc gia giàu hơn sản xuất nhiều thức ăn trên đầu người (food per capita) hơn. Một vài bằng chứng khác cho thấy, các cư dân thành thị ăn nhiều và dinh dưỡng hơn. Trong trường hợp đó sự tiêu thụ thức ăn thành phố có thể cao hơn trung bình quốc gia, và kết quả sau cùng của thực phẩm là chấm dứt ở các hố rác lớn hơn.

(2) Năng lượng: Không một tổ chức quốc tế chính thức nào hiện nay thống kê được năng lượng tiêu thụ ở cấp thành phố (city level). Tuy nhiên, các loại nhiên liệu chủ yếu ở các thành phố lớn nhất đều được biết.

Sự tập trung nhiều dầu xảy ra ở các vùng thành thị như JakartaManila. Trong khi đó khí tự nhiên lại ở các thành phố Bangkok, Bombay, London, Mexxico city và Moscow. Than đá là một nguồn nguyên liệu chính ở Bắc Kinh, Thượng Hải, CalcuttaSeoul. Thủy điện là một nguồn lớn nhất ở Sao Paolo và Los Angeles. Tại các nước đang phát triển, gỗ và than dễ tiếp cận hơn với các nhóm thu nhập thấp hơn hơn so với khí thiên nhiên và điện. Việc sử dụng nhiên liệu sinh học càng phổ biến, làm cho dự toán chính xác càng khó khăn hơn. Tại Jakarta, nhiên liệu sinh học chiếm trên 25% đầu vào nhiên liệu. Chúng ta có thể giả sử rằng sự phát triển ở các quốc gia khác sẽ tương tự hướng các siêu đô thị (megacity) lên những “bậc thang năng lượng” (energy ladder) đến các năng lượng sạch hơn, nhiều nhiên liệu vận chuyển (transport fuel) hơn và nhiều sản xuất điện năng hơn.

Nhiên liệu sử dụng được gắn liền với kích thước của các đoàn xe ô tô của thành phố. Con số về ô tô trong các siêu đô thị rất đa dạng, từ 4/1000 dân cư ở Lagos (khoảng 40000 vehicles) đến 645/1000 ở Los Angeles hay khoảng 8 triệu chiếc ô tô. Phương tiện giao thông bản thân chúng phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng của hệ thống giao thông. Tuy nhiên, xe ô tô có chiều hướng thâm nhập vào nền văn hóa mới bởi vì các con đường có thể xây dựng ăn khớp theo chúng. Ví dụ, hơn 30 năm qua, xe máy ở Thượng Hải tăng gấp 13 lần và xe không động cơ (nonmotor) tăng 9 lần, trong khi đường xá chỉ tăng khoảng 50%.

(3) Nước: Mặc dù nước cũng đi vào thành phố một cách thụ động, sự nhập vào chủ động của con người từ tầng nước ngầm và các đường dẫn nước đi xa thường cung cấp số lượng lớn phục vụ nhu cầu tiêu thụ. Không giống như nhiên liệu và thực phẩm, nước có thể được làm sạch và tái sử dụng nhiều lần trước khi nó được xuất khỏi hệ thống đô thị, mặc dù điều này chỉ xảy ra ở các thành phố giàu có và có thể đủ khả năng thiết bị. Các thành phần gây hại trong nước không phải thuộc về bản thân nó mà là chất thải từ thức ăn, nhiên liệu, và tiêu thụ vật chất. Đối với rất nhiều siêu đô thị, các dòng nước (water flux) được đánh giá rất khó khăn bởi vì ko phải tất cả các cư dân đều nhận được nước từ trong hệ thống thành phố hoặc các dịch vụ nước thải ở nhà họ. Sự tiếp cận với nước máy thường giảm đối với các vùng ngoại vi thành phố (siêu độ thị?). Mexico city, một ví dụ, các dịch vụ ống nước suy giảm từ 45% ở trung tâm đến còn 27% ở ngoại thành và giảm còn gần đến 0 ở các vùng định cư bất hợp pháp. Sự vắng mặt của dịch vụ nước toàn diện trong quá trình phát triển nhanh chóng các thành phố đưa đến kết quả là sự thiếu nước để đáp ứng nhu cầu cơ bản của chính phủ và dân cư, quan trọng nhất sau đó là ở vấn đề vệ sinh môi trường. Rò rỉ trong các hệ thống cung cấp nước từ mạng lưới cung ứng vào các kênh bề mặt và nước ngầm có ý nghĩa quan trọng trong thành phố lớn. Thất thoát xảy ra với tỷ lệ 33% ở Bombay, 37% ở Seoul, 49% ở Bangkok, 50% ở Cairo, và 51% trong Manila. Nước là một dòng vật chất riêng rẽ to lớn nhất ở hệ sinh thái thành thị. Các thành phố tiêu thụ trung bình khoảng 1000 kt nước/ngày.

a.      Đầu vào thụ động có nhiều đặc tính của đầu vào tự nhiên, trong khi thành phần chính của loại đầu vào này gồm:

(1) Không khí: Đầu vào thụ động của các chất trong bầu không khí chủ yếu có ni – tơ và ô – xi. Sự gia tăng của khí carbonic đe dọa hiện tượng hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu. Nồng độ trung bình CO2 được bổ sung vào khí quyển do các hoạt động của con người trong thế kỷ qua đo được ở mức 100 ppm (tính bằng mole). Các loại phân tử khác có mặt ở mức ppm hoặc cao hơn, bao gồm hơi nước và khí methane. Cả hai đều có tác động đáng kể đến khí hậu và chu kỳ sinh hóa địa thông qua các nguồn chứa vật chất của môi trường đô thị. Chu trình thuỷ văn toàn cầu xác định khi nào và ở đâu nước hiện có sẵn để sử dụng con người. Thành phần mathane trong không khí được tăng cường tại các thành phố do rò rỉ khí đốt tự nhiên và sản sinh trong môi trường kỵ khí, chủ yếu là bãi rác và cống. Khí methane được coi là một loại khí gây hiệu ứng nhà kính lớn.

      Thông thường, ở độ cao trên 25km thì NOx làm giảm nồng độ O3, còn ở độ cao dưới 25km, NOx có tác dụng bảo vệ O3 khỏi bị phá hủy. Khí NOx hoạt động như chất xúc tác trong quá trình phân hủy hydrocarbon, tạo ozone. Trong tầng đối lưu, NOx là một chất oxi hóa và là khí nhà kính.

Lưu lượng khối của tổng những chất khí và các hạt (chủ yếu bởi ni – tơ và ô xi) khác nhau từ thành phố này so với thành phố khác vì địa hình và đặc điểm khí tượng học. Tọa lạc tại 20 độ vĩ bắc, thung lũng của Mexico đưa ra kinh nghiệm về các hệ thống gió tây vào mùa đông và trở lại của gió mậu dịch trong mùa hè. Dòng thổi chính bị chặn lại bởi một vòng hình chữ U của các rặng núi mở ở phía bắc và tăng từ tầng lưu vực 2.200 m đến khoảng 3000 độ cao. Đối với các khu vực đô thị trong địa hình bằng phẳng, sự lưu thông của khí dễ tính toán hơn. Siêu đô thị ven biển chịu ảnh hưởng của gió biển. Dãy núi ngang có thể ngăn chặn lưu thông và góp phần vào vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng của địa phương.

(2) Nước: Đầu vào thụ động của nước vào thành phố bao gồm lượng mưa và dòng chảy trên bề mặt đô thị. Cơ sở hạ tầng đô thị có ảnh hưởng sâu sắc vào chu trình nước. Môi trường xây dựng có thể gia tăng sự bốc hơi và lượng mưa đô thị. Mặt đường và công trình sau xây dựng để lại bề mặt đô thị hầu như không thấm. Điều này làm giảm đáng kể sự xâm nhập của nước vào đất, độ ẩm của đất, dòng chảy ngầm... Ví dụ ở Tokyo, 82% bề mặt được bao phủ bởi các tòa nhà, bê tông, hoặc nhựa đường. Giảm nước ngầm cũng góp phần làm sụt lún ở một số siêu đô thị. Đó là điều đang xảy ra ở trung tâm của thành phố Mexico City: giảm 9 mét do lún, kể từ 1910. Các bộ phận của Bangkok bị chìm 1,6 m giữa năm 1960 và 1988, trung bình 5,7 cm mỗi năm.

Đầu vào thụ động của nước được coi như tài sản lẫn phiền hà. Ở các thành phố đang phát triển, nước mưa từ mái nhà là nguồn nước chính phổ biến ở các vùng ngoại vi đô thị, nơi mà dịch vụ cấp nước hay ngay cả xe tải chở nước có thể không đáng tin cậy. Ở các thành phố phát triển nhất với nguồn cung cấp nước tập trung, nước mưa đô thị được hình thành trong tâm ý nhà quản lí như một mối phiền toái, và nước mưa bị đẩy thông qua hệ thống cống của thành phố. Trong thành phố ôn đới và nhiệt đới, có thể thu được một lượng đáng kể nước. Thành phố New York nhận được khoảng 10.000 kt nước mưa mỗi ngày, vượt dự kiến ​​sử dụng 7.610 kt mỗi ngày 36%. Thu hứng và xử lý nước mưa trên quy mô lớn đòi hỏi phải có những thay đổi đáng kể và tốn kém trong cơ sở hạ tầng, chính phủ và / hoặc khu dân cư, vẫn chưa rõ chính xác khi nào những thay đổi này trở nên hiệu quả về mặt chi phí.

(3) Nhiệt: Các thành phố bị ảnh hưởng bởi bức xạ mặt trời, từ các nguồn do con người gây ra như thiết kế kết cấu. Kết hợp của sự gia tăng nhiệt hấp thụ bề mặt (chẳng hạn như nhựa đường), tăng diện tích bề mặt (do xây dựng công trình), và kết quả nhiệt do sản xuất tăng lên (do ngành công nghiệp, giao thông vận tải và sưởi ấm, nước và không gian) tạo ra một hòn đảo nhiệt đô thị: có nghĩa là tăng nhiệt độ bề mặt và không khí một vài độ C. Tại Mexico City, các tòa nhà và các bề mặt lưu trữ rất nhiều nhiệt trong ngày, làm thành phố duy trì một dòng nhiệt đi lên trong suốt hầu hết các đêm. Tăng nhiệt độ khí quyển có thể thay đổi tỷ lệ phản ứng hóa học khí quyển, thường chúng tăng lên (theo mối quan hệ của nhiệt độ và tốc độ phản ứng). Nhiệt độ tăng lên cũng ảnh hưởng đến lượng mưa, thường dẫn đến tăng lượng mưa ở thành phố so với môi trường xung quanh. Tại Thượng Hải, tăng nhiệt độ trong lõi đô thị lên đến 5 độ C góp phần làm tăng lượng mưa ở mức 100 mm mỗi năm.

Đầu ra:

a.      Đầu ra trong môi trường khí: Các khí được xuất ra khỏi đô thị thường là các khí gây ô nhiễm, độc hại. Ô nhiễm không khí bắt đầu từ trung tâm ô nhiễm của những quốc gia đầu tiên trên thế giới vào thập kỉ 50 thế kỉ 20. Ví dụ về sự xả thải qua dạng khí ở thung lũng Mexico thể hiện qua bảng sau:

      Vật chất trong đầu ra dạng khí của hệ sinh thái đô thị bao gồm hợp chất chứa carbon (các chất khử, chất oxi hóa và hợp chất hữu cơ: CH4, CO, các hydrocarbon khác methane); các hợp chất chứa ni – tơ (NH3 và NOx); khí SO2; bồ hóng và bụi. Các chất khí này xuất phát từ quá trình hoạt động kị khí của các vi sinh vật (methane), sự đốt cháy không hoàn toàn nhiên liệu dạng lỏng, nhiên liệu ô tô, sự rỏ rỉ và chuyển dạng của nhiên liệu carbon (các alkane, NMHC, bụi và bồ hóng), các quá trình đốt cháy trên toàn cầu (NOx), từ phân của các sinh vật tự nhiên và trong nhà (NH3).

      Các khí sau khi thải vào bầu không khí thường xảy ra các phản ứng hóa học tự nhiên, có thể gây nguy hiểm. Nhưng tốc độ các phản ứng thấp hơn nhiều so với tốc tộ thải nên thường gây tích tụ. Khí gây ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cư dân và hệ sinh thái ở đô thị mà còn tác động đến các hệ sinh thái chung quanh nó và bầu không khí toàn cầu. Các hạt có chứa axit lưu huỳnh gây ra nhiều ca tử vong ở London trước việc sử dụng than đã được kiểm soát. Ni – tơ từ các siêu đô thị có thể hoạt động như phân bón cho khu vực tự nhiên theo hướng gió, cả mặt đất và biển cả. Sắt từ Trung Quốc sẽ tăng mức độ vi chất dinh dưỡng một phần đối với một số từ xa vùng biển Bắc Thái Bình Dương. Chất oxy hóa được biết là làm giảm năng suất cây trồng trong các lĩnh vực nông nghiệp đông dân cư khu vực Đông Á

b.      Đầu ra trong môi trường nước và biển: Rất khó để tính được cụ thể hệ thống thoát nước, quá trình tạo ra nước thải và điểm đến của nó trong các thành phố đang phát triển. Ở một số nơi, hệ thống thoát nước bị hạn chế. Lượng nước thải đang ngày một gia tăng dù khả năng xử lí chúng tăng lên cùng với sự phát triển.

Hệ sinh thái đô thị liên hệ với các hệ sinh thái khác bằng dòng vật chất và năng lượng chảy qua nó. Sử dụng nước, thực phẩm và đốt cháy năng lượng là những hoạt động ở cấp độ toàn cầu. Các tác động vào các quá trình sinh thái có thể xảy ra ở một vị trí xa hơn vì có những dòng feedback phức tạp tồn tại giữa đô thị và môi trường.







Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Gradient đô thị - nông thôn


Giáo sư Richard T. T. Forman đã sử dụng sơ đồ về vùng đô thị để vạch ra phạm vi của vùng đô thị với nhiều khái niệm liên quan theo phương pháp cảnh quan trong khi cũng đặt sự quan tâm lên kích thước quần thể dân cư một cách đầy cuốn hút. Mời quý bạn đọc xem thêm trong sách “Urban Regions, Ecology and Planning beyond the City”.

Trên đây là một triển khai cho quy phạm về giới hạn không gian của hệ sinh thái đô thị. Tất yếu cũng có nhiều cách xem xét khác, kĩ lưỡng hay đơn sơ hơn. Trong phạm vi tìm hiểu hệ thống lí thuyết mới mẻ của Sinh thái học đô thị, chúng tôi cảm thấy biểu đạt của giáo sư Forman là hoàn toàn phù hợp. Đó không chỉ là giới hạn không gian mà còn là sự biến đổi trong hình thái của đô thị theo chiều ngang. Vấn đề sẽ được trích lược sâu hơn về sau.

Chương trình Gradient Sinh thái Đô thị - Nông thôn (Urban-Rural Gradient Ecology) do nhóm các nhà nghiên cứu Mark McDonnell, Steward Pickett, Richard Pouyat và Margaret Carreiro tiến hành ở vùng siêu đô thị New York, đã đưa ra khung lý thuyết nêu lên sự thay đổi theo gradient từ vùng đô thị lõi đến nông thôn và hệ sinh thái tự nhiên. Nó gồm 2 thành phần thể hiện qua các thước đo về: (1) điều kiện lí – hóa; (2) tập hợp sinh vật; (3) quá trình của hệ sinh thái; (4) yếu tố nhân văn. Trong đó 3 thước đo đầu tiên thuộc thành phần như trong khái niệm về gradient sinh thái học và thành phần sau bao gồm con người như thành phần của hệ sinh thái. Theo đó là kết luận về quá trình đô thị hóa như một quá trình tạo ra một gradient môi trường phức tạp.

Một sơ đồ phân chia theo thứ tự các vùng lãnh thổ theo gradient đô thị - nông thôn được trình bày ở hình dưới. Sơ đồ gồm 2 phần là hình chiếu theo chiều đứng và ngang theo lát cắt từ trung tâm đô thị đến vùng tự nhiên.


Lưu ý của các tác giả đưa ra cho khung lý thuyết này là hầu như đầy không phải là trật tự tất yếu của mọi trường hợp. Mỗi khu đô thị khác nhau có sự thể hiện gradient đô thị - nông thôn khác nhau. Nó không tuyến tính và không đều trong các đô thị trên khắp thế giới. Điều đó phụ thuộc và cách mà mỗi quốc gia tiến hành quá trình đô thị hóa.
           
            Các thành phần của gradient đô thị - nông thôn đã được giới thiệu đi sâu hơn phân tích sẽ gồm nhiều yếu tố. Sơ đầu dưới cho thấy những yếu tố đó. Tất nhiên, không thể xem xét chúng theo quan điểm cấu trúc vì chúng là các thành tố ảnh hưởng qua lại. Thành phần con người với 3 thành tố chính ảnh hưởng nhiều đến các quá trình theo gradient trong hệ sinh thái đô thị.

một phong cách hay cách nhìn thế giới?

Tôi đã luôn tự hỏi, liệu bản thân tôi có cần đến blog này lắm không? Có cần lập ngôn? Không một bằng cấp, không một học vị nào dành cho tôi cả. Thậm chí thứ tôi đang học với tất cả niềm yêu thích, bản thân tôi vượt qua mọi chông gai, nếu thành tài, thì chưa chắc gì đã được xem trọng. Vậy nên nói năng nhiều có cần thiết? Nhất là khi sự sáng tạo của bản thân quá kém, không thể gửi gắm rõ ràng qua bất kì công việc nghiêm túc nào. Người đời sẽ nhìn vào và phê phán là tôi kém cỏi về năng lực và lòng vòng về luận điệu...

Tôi bị ám ảnh, một cách kinh sợ và ghê tởm, đối với một hình ảnh: giáo sư già giật micro của một người phát biểu trẻ tuổi để... tiết kiệm thời gian cho thứ gọi là Hội đồng khoa học. Với "phong cách khoa học miền Nam" đã hằn sâu vào đầu óc, vào chuẩn mực đời sống của tôi, thì từ đó đến giờ, tôi vẫn không bao giờ chấp nhận được điều ấy. Tôi cho rằng, ông ta chỉ dám giật micro khi thật sự ông ta cho rằng bản thân đã hiểu tường tận mọi tầng lớp của sự nghiên cứu, quá trình nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu bằng một thái độ trịch thượng và truyền giảng tôn giáo!


Chính hình ảnh đầy hãi hùng đó, với những nguồn gốc tiểu sử khác, đã dẫn tôi tới một cảm quan bi lụy về tương lai của bản thân tôi nếu dấn thân vào khoa học và về tương lai của khoa học nước nhà. Và cũng từ đó, tôi không ngại ngần gì vạch ra thứ chuẩn mực mà tôi gọi là "phong cách khoa học miền Nam", nhờ soi chiếu với những người thầy cũ đầy đức độ của tôi ngày trước, dạy khoa học "vỡ lòng" cho tôi, với một thái độ tôn trọng suy nghĩ của học sinh, dù sai hay đúng, phản biện bình đẳng và thẳng thắn với học sinh.


"Phong cách khoa học miền Nam" dường như rõ ràng không liên quan gì tới khoa học. Trớ trêu quá chăng?


Tôi không phân biệt Bắc và Nam để miệt thị điều gì và ai cả. Tôi phân biệt vì một kiểu "phong cách" đối xử với khoa học là một đầu mối vũ trụ quan trong khoa học và là thái độ của người làm khoa học quyết định thành tựu trong quá trình đi tìm chân lý.


Chỉ có một thái độ đúng đắn, thì Darwin mới viết ra thuyết tiến hóa. Chỉ có ở "phong cách" Mendel thì học thuyết di truyền mới ra đời.


Thêm nữa Jean Paul Sartre và Trần Đức Thảo tranh luận với nhau cũng không nhảy vào họng nhau bất lịch sự như vậy đâu!


Chỉ một lần cho mãi mãi, tôi đã không để hình ảnh khó chịu ấy lọt vào mắt mình lần thứ hai.

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

trước cái chết là bầu trời trộn sắc


Những lúc suy nghĩ lung tung về thế giới, tôi luôn băn khoăn về mối liên hệ giữa lý thuyết và hiện thực. Đặc biệt khi mối quan hệ ấy nằm trong những nỗ lực cực thân của con người để tác động đến thế giới khách quan.

Có một sự thật là tôi không thể nào trở thành một kẻ-biết-tư-duy có khả năng tư duy khác với lề lối mà tôi đã được học. Tôi chỉ là một 'tôi' duy nhất với cách tư duy đó: phương pháp luận biện chứng duy vật - biện chứng và duy vật. Đó là một cánh cửa đóng chặt, nhưng chưa hẳn mang lại an toàn cho ngôi nhà đời sống luôn khát khao yên bình. Lịch sử chỉ cần 1, nhưng đời sống luôn đưa ra 1 vài, kinh nghiệm hay trường hợp, về cách người ta trở nên duy ý chí hoặc không đủ khách quan, chứng tỏ phương pháp luận đó là vô cùng khó khăn đối với những ai thích xưng danh bản thân cùng với nó. Ông ta bảo ông ta biện chứng và duy vật, nhưng ông ta bản chất chỉ là một hình thứ biến thái hỗn hào mạo danh.

Cực kì khó khăn!

Tôi không nhớ trong lịch sử, ai là người đẩy cho phép biện chứng duy vật cái trách nhiệm cải tạo thế giới nữa. Nhưng người đưa đẩy đâu có tội. Tội nghiệp là những người phải thực hiện cái công việc cải tạo thế giới, khoác trên mình cái áo ấy. Vì có lẽ họ làm không nổi. Tôi cũng làm không nổi, nên chẳng bao giờ tôi làm gì cả.

Diễn giải thì được, còn kiến tạo thì sao? Nhất là khi thứ phải kiến tạo là xã hội? Trong giới hạn kiến thức mà tôi được tiếp nhận, thì một trong những tính chất đầu tiên của xã hội là sự đa dạng - một trong những tính chất nội tại đầu tiên của bất kì cộng đồng người nào, của toàn thế loài người và cũng là của thế giới. Và tính chất ấy quyết định cái gì ở việc người ta kiến tạo nên xã hội loài người đầy phức tạp? Hình như, chính đa dạng làm nên phức tạp? Hẳn đó là cả một quá trình. Quá trình của sự hỗn tạp, luôn bủa vây và sẵn sàng tát vào mặt bất cứ kẻ nào có ý định làm thuần nhất thế giới theo chủ nghĩa 'cào bằng'. Nhiều người có ước vọng thể hiện tính chất thống nhất của thế giới một cách mãnh liệt, duy ý chí: thay vì 'đa dang và thống nhất' thì lại là '(đa dạng và) thống nhất'.

------------------------------------------------------------------------------------

Loanh quanh xa xôi như vậy, cũng là vì tôi tự thấy nản lòng với thứ mà trí tưởng tượng vẽ ra cho tôi xem: Một đám người tóc bạc lơ phơ nhảy xồm lên như muốn hét vào mặt, vì chủ nghĩa 'tập thể' của họ đã bị tôi bỏ qua trong vài cái công thức, vài cái hình vẽ. Tập thể của họ không còn là một thể thống nhất mà là một tập hợp từ vô số những người muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm.

Nhưng ít ra những người muốn sống sao thì sống ấy, tôi thấy có sẵn cái vẻ khách quan hơn!

Rồi với giọng điệu chua chát, những ông già bà cả 'lão làng' sẽ phang thẳng vào mặt tôi không thương tiếc yêu cầu của họ: Quản lí như thế nào? Tôi có biết đâu, vì tôi đâu phải là nhà cách mạng.

Thật ra thì... nếu người ta thành công ào ào với phương pháp biện chứng duy vật theo phong cách triết học đời sống thì tôi sẽ thành... bác học!