Có lẽ tôi đã bắt đầu mơ từ rất lâu, và cho đến bây giờ tôi vẫn chưa tỉnh lại. Những ngày tháng thật dài trôi đi, trôi quá tầm tay của tôi trong thực tế. Nhưng trong giấc mơ đời mình, tôi vẫn còn đủ khả năng để níu giữ mọi thứ.
Đôi khi, hình hài của tôi hiện ra rõ ràng là một đứa bé. Hay đó là cách tôi xuất hiện trong tâm trí của mọi người, tôi không biết chắc.
"Con ơi, cha đã quên trò chơi mê mải với cành que và chim đất.
Cha tìm đồ chơi quý và thu nhặt những thoi bạc nén vàng.
Tìm được gì, con cũng làm nên đồ chơi thích thú; còn cha bỏ cả thì giờ và sức lực tìm những của có bao giờ được đâu.
Trên thuyền mỏng manh, cha cố chèo chống mong vượt qua bể dục, mà quên rằng chính mình cũng đang diễn một trò chơi."
(Tagore)
Tôi thật sự thấy thích đoạn thơ của Tagore, vì khi tôi 18, tôi bỗng quay ngoắt trở lại thành một đứa trẻ (trong mắt thế gian). Sẽ có kẻ thầm ghen tị với tôi. Ngoài kia, người ta vẫn thường tự an ủi: "Năm nay là sinh nhật 18 tuổi lần thứ mười của mình."
Đứa trẻ cầm que chơi đùa, như nhạc trưởng thần thánh điều khiển thế giới. Đừng phạm lỗi bé ơi, chúa trời sẽ phạt em thành người lớn mất.
"Nếu bé muốn thì ngay bây giờ bé có thể bay lên tận trên trời.
Không phải tự nhiên mà bé không chịu rời bỏ chúng ta.
Bé thích đặt đầu mình vào trong lòng mẹ.
Và mắt bé không chịu rời xa mẹ bao giờ."
(Tagore)
Hạnh phúc không ở đâu xa mà ở ngay trước mắt. Đứa trẻ thấy, và đáng lẽ thế gian đều thấy. Mỗi ngày tôi đều tập nhìn. Nhìn gì và biết nhìn vào đâu?
Tôi nghĩ rằng tôi chỉ có thể nhìn vào giấc mơ. Mơ của tôi và mơ của người. Người nghiên cứu mơ vi khuẩn E. Coli.
Nhưng tôi không thật sự là một đứa bé nữa. Tôi chỉ là một người lớn níu giữ giấc mơ từ lúc còn bé. "Thực tế có thể không phải là sự thật, và sự thật không nhất thiết là cái xảy ra trong thực tế." Tôi đang làm gì?
Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013
Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013
lí thuyết và lí thuyết
Chương thứ 7 của cuốn Sinh thái học đô thị (Olivier Coutard, Jean-Pierre Le1vy) viết về thủy văn đô thị. Sau những trình bày về bối cảnh, đặc thù, định hướng... của ngành này, có một điểm làm tôi chú ý hơn cả. Đó là "tính dễ bị tổn thương". Nó gợi lên trong đầu tôi nhiều suy nghĩ về tinh thần mà Sinh thái học/Sinh học đã mang tới (cho đời sống) và ảnh hưởng khắp hết các ngành "mang tính liên ngành" liên quan đến sự sống, thể hiện ở những tính chất quan trọng của hệ thống sống, chứ không phải chỉ ở các quá trình hay chức năng.
1, Tính dễ bị tổn thương
Các tác giả đã viết: "Tính dễ bị tổn thương của đô thị phụ thuộc vào đặc điểm vận hành và hoạt động của thành phố và bao gồm những vấn đề về mặt kĩ thuật, kinh thế và xã hội của thành phố." Nói về tính dễ bị tổn thương trong nội dung về thủy văn là sự đề cập hợp theo logic của các tác giả vì các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương trong nhiều thập niên gắn liền với lũ lụt và tác động của hiện tượng ấy.
Nói về tính dễ bị tổn thương, các nhà học học có nhiều quan điểm. "Theo Christian Kuhlicke quan niệm tính dễ bị tổn thương xuất phát từ một khái niệm về sự không hiểu biết có nghĩa là con người đối phó như thế nào với kiến thức hạn chế của mình." Joanne Linnerooth-Bayer định nghĩa: "Tổn thương là một thuật ngữ phân tích, Tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh thái." Nhiều nhà khoa học khác đã phân tích ra rằng trong điều kiện tiếp xúc với một số căng thẳng hoặc khủng hoảng, tính dễ bị tổn thương có nguyên do không chỉ bởi tiếp xúc với sự nguy hiểm mà còn phụ thuộc vào khả năng đối phó của những người bị ảnh hưởng. Khả năng đối phó ấy (một lần nữa trong sự phân tích) là sự kết hợp giữa sức kháng cự (khả năng đối phó các tác động gây hại của mối nguy hiểm và tiếp tục tác động) cũng như khả năng phục hồi tổn thương một cách nhanh chóng.
Rõ ràng tính dễ bị tổn thương phản ánh ngay cho chúng ta một câu hỏi: có sống được hay không? Trước hết là sống, sau đó là phát triển. Tôi muốn nói lên ở đây rằng, trong thời điểm hiện nay, không chỉ các nhà khoa học mà cả những nhà chính trị, rất thích nói về "phát triển bền vững" như đó là tương lai ước mơ của nhân loại. Quay trở lại với nội dung ban đầu, trong những diễn giải trên, các nhà khoa học đã phân tích đến "khả năng đối phó của những người bị ảnh hưởng", "sức kháng cự" và "khả năng phục hồi tổn thương." Có thể thấy chúng đều nhằm vào con người. Trong các trường hợp khác, tôi lại hi vọng có thể xem xét cho các hệ thống sống vốn có chung đặc tính sinh học với con người và được con người hỗ trợ. Mà có lẽ sự thật đã là như thế rồi.
2, Tính đàn hồi và tính ổn định
Phần trên là đôi nét chính yếu nhất của tính dễ bị tổn thương. Điều trước hết mà tôi thấy được là nội dung trên trở thành hi vọng của con người trong việc giải quyết các nguy cơ bất ngờ. Thực tế hệ sinh thái bất kì nào cũng tồn tại với những nguy cơ, các loài sinh vật thành phần trong đó cũng phải tìm cách sống còn với những nguy cơ. Các lí thuyết của sinh thái học đã khắc họa gần như đầy đủ về cuộc sinh tồn đó.
Đối với con người cũng có những điều tương tự. Một ví dụ dễ hiểu đã được trình bày trong "Giáo trình Sinh thái học người" (Nguyễn Hữu Nhân, Hoàng Quý Tỉnh): "Các xã hội ở bãi sông cấu trúc các hệ sinh thái đô thị và nông nghiệp một cách đặc trưng để giảm thiểu thiệt hại do lũ lụt, bởi vì các hệ xã hội phát triển củng với hệ sinh thái của bãi sông. Họ trồng trọt câu lương thực trên những diện tích sẽ không bị ngập nặng. Nếu học trồng lúa, học sử dụng các giống đặc biệt với đủ độ cao thân để giữ những bông lúa nằm trên mặt nước tránh cho mùa màng bị hư hại. Họ xây nhà cao để nước lũ chảy dưới ngôi nhà của họ. Họ dự trữ thực phẩm ở những nơi an toàn để không bị cạn lương thực khi lũ tàn phá mùa vụ; đồng thời họ có các thể chế xã hội để giúp đỡ các nạn nhân khắc phục những hư hại khi lũ lụt thàm khốc bất thường. Các cơn lũ vẫn có thể gây ra thiệt hại mặc dù đã có những sự thích nghi, nhưng thiệt hại hiếm khi nghiêm trọng. Ở Việt Nam hiện nay đã quen với câu "Sống chung với lũ". Điều này là thực tế của người dân một số nơi ở Đồng bằng sông Cửu Long khi lũ về họ có cơ hội được đón nhận lượng đất phù sa màu mỡ cho đất canh tác, có cơ hội cho việc tăng các nguồn lợi thủy sản như cá, tôm... Họ cũng sẵn sàng "sống chung" bằng cách thu xếp nơi ăn ở và các điều kiện sinh hoạt khác sao cho phù hợp và an toàn khi có lũ lớn về."
Ví dụ vừa nên cho thấy một khả năng ít bị tổn thương của cộng đồng người khi đã có đầy đủ sự hiểu biết, có cách kháng cự và phục hồi trong tất cả các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội: không thiệt hại vì có nguồn thu từ lũ, vì có sự bảo vệ trước sức mạnh của dòng lũ, vì có sự huy động của thể chế chính quyền... Không những chỉ ra thực tiễn ứng phó trước nguy cơ, ví dụ trên còn thể hiện cộng đồng ở bãi sông có tính đàn hồi. Các tác giả của cuốn Giáo trình cho biết: "Tính đàn hồi là khả năng tiếp thực thực hiện chức năng của một hệ sinh thái, hoặc hệ xã hội mặc dù có đôi lúc bị xáo trộn." Như vậy, có thể hiểu tính đàn hồi ám chỉ vào khả năng của bản thân hệ thống đang vận động.
| tính đàn hồi cao - độ ổn định thấp; tính đàn hồi thấp - độ ổn định cao |
3, Nguồn gốc và kết quả
Các chức năng của hệ sinh thái đã được phát biểu từ lâu, bao gồm: dòng năng lượng,
chuỗi thức ăn, đặc trưng phân hóa theo không gian và thời gian, vòng tuần hoàn
vật chất của các phần tử dinh dưỡng (vòng tuần hoàn sinh địa hóa), phát triển
và tiến hóa, điều khiển. Tất cả các lí thuyết về các vấn đề trên đều được ứng dụng vào các ngành liên quan đến sinh thái, dễ thấy nhất là dòng năng lượng và vòng tuần hoàn vật chất. Còn lí thuyết đã được phân tích và áp dụng trong tìm hiểu trạng thái của hệ thống sống như phần trình bày bên trên, là lí thuyết về quá trình điều khiển của hệ sinh thái: phản hồi âm tính và phản hồi dương tính.
"Mọi hệ sinh thái và hệ xã hội loài người đều có nhiều vòng phản hồi âm tính và dương tính. Cả hai loại phản hồi này đều cần thiết cho sự tồn tại. Phản hồi âm tính tạo sự ổn định, nó duy trì các phần quan trọng của hệ thống trong các giới hạn cần thiết cho việc thực hiện chức năng hoàn chỉnh. Phản hồi dương tính tạo khả năng thay đổi mạnh mẽ khi cần." Chính sự phối hợp của các phản hồi mang tính điều khiển này đã tạo ra những vùng ổn định mang cả tính đàn hồi lẫn độ ổn định. Vùng ổn định thể hiện một phạm vi mà trong đó các quá trình diễn ra ăn khớp với nhau, có thể là vùng ổn định "sống" mà cũng có thể là vùng ổn định "chết".
Kết quả của mọi tác động thường do các phản hồi trong sự tự tổ chức nội tại quyết định. Hệ thống sống chịu tác động có thể quay về trạng thái ban đầu, trong vùng ổn định cũ, hoặc bị đưa sang một vùng ổn định mới. "Các hệ sinh thái và các hệ xã hội (các hệ thống hiếm khi thay đổi) sẽ dễ dàng chuyển sang một vùng ổn định khác khi các rối loạn bên ngoài buộc chúng phải thích nghi với thay đổi do sức chứa có hạn của mình."
Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013
lười biếng nên chỉ viết dàn ý. quan trọng vẫn là con người.
Sự cố điện như sự cố sinh thái:
- mang tính ngẫu nhiên (?)
- điện mang bản chất năng lượng;
- hệ thống điện mang bản chất mạng lưới phụ thuộc lẫn nhau;
- quá trình truyền tải điện mang bản chất dòng năng lượng;
- nguyên nhân và hậu quả của và từ vấn đề mối quan hệ: môi trường - con người; vật chất - năng lượng.
- các tính toán thiệt hại phần nhiều về kinh tế - đặc tính của các ngành sinh thái liên quan đến con người(?).
Các quan niệm khi xem xét vấn đề:
- quan niệm của hệ thống lí thuyết quản lí ngành;
- quan niệm của hệ thống lí thuyết sinh thái;
- quan niệm của hệ thống lí thuyết "bền vững";
- các quan niệm khác nhau thể hiện ý thức khác nhau, phương pháp luận khác nhau và lựa chọn hành động khác nhau.
- vai trò và vị trí của con người là một mặt quan trọng để so sánh.
Hành động khả diễn sau sự cố:
- khắc phục và xem xét lại nhiều vấn đề.
- mỗi hành động mang một cấp độ: sự quản lí nguồn điện - cấp độ năng lượng; quản lý hoạt động của con người với nguồn năng lượng - cấp độ môi trường; quản lý các hoạt động của con người trong tổng thể các quá trình của năng lượng và vật chất - cấp độ sinh thái; (quản lý các hoạt động của xã hội trong các quá trình của năng lượng và vật chất - góc nhìn theo quan niệm "bền vững".)
- mỗi quan niệm phù hợp với một cách thể hiện vai trò nhất định của con người, có thể thể hiện qua biểu đồ mang tính xã hội học.
- mang tính ngẫu nhiên (?)
- điện mang bản chất năng lượng;
- hệ thống điện mang bản chất mạng lưới phụ thuộc lẫn nhau;
- quá trình truyền tải điện mang bản chất dòng năng lượng;
- nguyên nhân và hậu quả của và từ vấn đề mối quan hệ: môi trường - con người; vật chất - năng lượng.
- các tính toán thiệt hại phần nhiều về kinh tế - đặc tính của các ngành sinh thái liên quan đến con người(?).
Các quan niệm khi xem xét vấn đề:
- quan niệm của hệ thống lí thuyết quản lí ngành;
- quan niệm của hệ thống lí thuyết sinh thái;
- quan niệm của hệ thống lí thuyết "bền vững";
- các quan niệm khác nhau thể hiện ý thức khác nhau, phương pháp luận khác nhau và lựa chọn hành động khác nhau.
- vai trò và vị trí của con người là một mặt quan trọng để so sánh.
Hành động khả diễn sau sự cố:
- khắc phục và xem xét lại nhiều vấn đề.
- mỗi hành động mang một cấp độ: sự quản lí nguồn điện - cấp độ năng lượng; quản lý hoạt động của con người với nguồn năng lượng - cấp độ môi trường; quản lý các hoạt động của con người trong tổng thể các quá trình của năng lượng và vật chất - cấp độ sinh thái; (quản lý các hoạt động của xã hội trong các quá trình của năng lượng và vật chất - góc nhìn theo quan niệm "bền vững".)
- mỗi quan niệm phù hợp với một cách thể hiện vai trò nhất định của con người, có thể thể hiện qua biểu đồ mang tính xã hội học.
Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013
từ mũi đến toilet - cuộc đời không dành cho bạn nào ưa sạch sẽ. nói rồi đấy, ưa sạch thì đừng đọc ^.^
Khi bạn bị khó thở, đó là do có 2 con người đang sống không cùng nhịp nơi bạn. Trong cùng một lúc, kẻ thở ra còn kẻ hít vào. Kết quả là không có chút dưỡng khí nào đi vào phổi cả.
Khi bạn bị á khẩu, đó là do có 2 con người đang sống không cùng ý tưởng nơi bạn. Trong cùng một lúc, kẻ muốn nói còn kẻ bóp họng lại. Kết quả là cùng lắm bạn chỉ kêu lên được vài tiếng ú ớ.
Khi bạn bị táo bón, đó là do có 2 con người đang sống không cùng cách thức nơi bạn. Trong cùng một lúc, kẻ tìm bô còn kẻ đá bô. Kết quả là bạn cứ ôm hận ngàn thu đi nhé. Cái này phải giải thích rõ hơn: táo bón là kết quả lâu dài của sự ganh ghét giữa 2 con người ấy.
Nói chung là, bạn không sống được theo ý của riêng cá nhân đâu. Mà nhiều khi, bạn còn chẳng biết đâu là ý muốn của bản thân bạn. Đau khổ hơn, bản thân bạn chỉ là 1 phần trong cá nhân của bạn, còn cả xã hội ngoài kia là 9 phần. 9 người 10 ý, rồi bạn sẽ bỏ lỡ nhiều phase của cuộc đời.
Thật ra là tôi chỉ đang diễn lại một cách thô thiển lý thuyết xã hội học thôi. Nhưng dù sao cũng chúc bạn sống cuộc đời lãng nhách một cách tanh bành.
Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013
Ghi chú
Hôm nay tôi đọc chương 5 của cuốn sách Sinh thái học Đô thị (O.Coutard, J. Lévy - Ngô Hữu Long dịch). Chương này có nội dung nói về nhà ở và giao thông như đối tượng tiêu thụ năng lượng, vật chất có liên quan đến môi trường. Đúng là thông qua 2 vấn đề vật chất và năng lượng, có thể liên kết nhiều thứ dường như không liên quan với nhau. Nhưng chỉ với 2 khía cạnh ấy thì các lý thuyết hay lập luận chỉ mới đứng trong địa hạt Sinh thái - Môi trường. Vì vậy, mà chúng sẽ còn bị chỉ trích. Như người ta đã vạch ra gì gì đó về "phát triển bền vững", xây dựng nên từ 3 trụ cột: tự nhiên, kinh tế và xã hội. Với lề lối tư duy sau khi "phát triển bền vững" được đề ra, thì mọi vấn đề cụ thể đều phải giải quyết trong 3 lực lượng lớn ấy.
Hôm nay tôi chú trọng đến giao thông. Các tác giả của sách đã nhắc lại "3 phẩm chất" của hệ thống di chuyển bền vững (đô thị) là: "hạn chế các tổn hại đến môi trường, với một chi phí chấp nhận được và không chệch hướng các mục tiêu công bằng xã hội." Tôi nghĩ rằng những "phẩm chất" được hi vọng như vậy, sẽ dẫn đến các giải pháp nhằm đạt được như mong muốn, cũng nằm trong 3 trụ cột lớn của "phát triển bền vững". Đó là người ta sẽ đặt ra những giải pháp quy hoạch cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, chính sách kinh tế - xã hội và các biểu hiện kép từ sự kết hợp nhiều loại giải pháp.
Hầu hết các giải pháp đó, tôi thấy rằng, đều mang tính hi vọng. Hi vọng, tức là có thể thiếu cụ thể. Vì kỹ thuật ngày càng phát triển, nhiều giải pháp được đưa ra, nhưng không biết giới hạn nào là đủ và có thể đạt đến. Trong khi sự hiểu biết về thực trạng ( chưa nói đến công nghệ) thật sự chưa toàn vẹn thì các chính sách, cũng mang tính hi vọng một cách triệt để. Và do đó rất dễ dàng rơi vào "duy ý chí". Hay làm sao để đạt được công bằng? Như các tác giả của cuốn sách đã nhắc nhở về sự tăng mật độ vùng ven đô: "Điều làm chúng tôi quan tâm ở đây, tức là việc giảm lượng khí nhà kính [từ lĩnh vực nhà ở], điều đó muốn nói rằng, nếu chính sách này không được suy nghĩ trong những cái được và mất trực tiếp và gián tiếp của nó, thì thứ thu được bằng việc xây dựng mới và sửa chữa có nguy cơ có nguy cơ lớn bị thua thiệt bởi sự sử dụng giao thông quá mức và đặc biệt của ô tô trong bối cảnh mở rộng đô thị đang diễn ra." Tôi không lạ với điều các tác giả người Pháp đã viết qua thực tế đời sống.
Như vậy, cuối cùng tôi thấy được sự hi vọng nhiều hơn trong hầu hết các giải pháp. Còn các tác giả của cuốn sách thì đề ra yêu cầu cụ thể hơn, trong hiện trạng các hiểu biết còn chưa hoàn chỉnh: "các phương pháp sản xuất thông tin đáp ứng các đòi hỏi của cách tiếp cận năng lượng của các hình thức đô thị." Trong đó gồm "các đòi hỏi liên quan đến địa điểm" và "các đòi hỏi liên quan đến các hoạt động được quan sát."
Hôm nay tôi chú trọng đến giao thông. Các tác giả của sách đã nhắc lại "3 phẩm chất" của hệ thống di chuyển bền vững (đô thị) là: "hạn chế các tổn hại đến môi trường, với một chi phí chấp nhận được và không chệch hướng các mục tiêu công bằng xã hội." Tôi nghĩ rằng những "phẩm chất" được hi vọng như vậy, sẽ dẫn đến các giải pháp nhằm đạt được như mong muốn, cũng nằm trong 3 trụ cột lớn của "phát triển bền vững". Đó là người ta sẽ đặt ra những giải pháp quy hoạch cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, chính sách kinh tế - xã hội và các biểu hiện kép từ sự kết hợp nhiều loại giải pháp.
Hầu hết các giải pháp đó, tôi thấy rằng, đều mang tính hi vọng. Hi vọng, tức là có thể thiếu cụ thể. Vì kỹ thuật ngày càng phát triển, nhiều giải pháp được đưa ra, nhưng không biết giới hạn nào là đủ và có thể đạt đến. Trong khi sự hiểu biết về thực trạng ( chưa nói đến công nghệ) thật sự chưa toàn vẹn thì các chính sách, cũng mang tính hi vọng một cách triệt để. Và do đó rất dễ dàng rơi vào "duy ý chí". Hay làm sao để đạt được công bằng? Như các tác giả của cuốn sách đã nhắc nhở về sự tăng mật độ vùng ven đô: "Điều làm chúng tôi quan tâm ở đây, tức là việc giảm lượng khí nhà kính [từ lĩnh vực nhà ở], điều đó muốn nói rằng, nếu chính sách này không được suy nghĩ trong những cái được và mất trực tiếp và gián tiếp của nó, thì thứ thu được bằng việc xây dựng mới và sửa chữa có nguy cơ có nguy cơ lớn bị thua thiệt bởi sự sử dụng giao thông quá mức và đặc biệt của ô tô trong bối cảnh mở rộng đô thị đang diễn ra." Tôi không lạ với điều các tác giả người Pháp đã viết qua thực tế đời sống.
Như vậy, cuối cùng tôi thấy được sự hi vọng nhiều hơn trong hầu hết các giải pháp. Còn các tác giả của cuốn sách thì đề ra yêu cầu cụ thể hơn, trong hiện trạng các hiểu biết còn chưa hoàn chỉnh: "các phương pháp sản xuất thông tin đáp ứng các đòi hỏi của cách tiếp cận năng lượng của các hình thức đô thị." Trong đó gồm "các đòi hỏi liên quan đến địa điểm" và "các đòi hỏi liên quan đến các hoạt động được quan sát."
Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013
Tôi có nhiều điều để mong chờ
Tôi có nên đặt niềm tin của tôi cho các nhà xã hội học, cho các lí thuyết xã hội học và phương pháp nghiên cứu của nó? Nhưng hình như việc lựa chọn đặt niềm tin vào đâu không phải là quyền hạn của tôi. Trong giới hạn suy nghĩ của mình, tôi chỉ xác định được rằng: nếu các phương pháp xã hội học đã có thể đo lường thành công thái độ, tình cảm hay các yếu tố khác có bản chất định tính, thì các nhà xã hội học sẽ giúp tôi chỉ ra được giới hạn ở mọi mặt đời sống của tôi, và của xã hội. Phạm vi đời sống của xã hội khi đó sẽ thật sự là một "không gian n chiều" với mỗi chiều của nó, xác định được giới hạn rõ ràng khi đi vào trường hợp cụ thể. Hình ảnh của một xã hội hoạt động sẽ hiện ra đầy đủ.
Tôi không phải là kẻ đi lạc thời đại qua mức, để không biến đến những chỉ số hạnh phúc mà các nhà khoa học trên toàn cầu đã tìm ra. Những chỉ số đó thật sự có thể giúp khám phá ra giới hạn của đời sống hiện đại. Tôi vẫn nghĩ quan trọng là phương pháp sử dụng những chỉ số đó. Khi có kết quả nói rằng Việt Nam là nước hạnh phúc nhất thế giới, nhiều người đã bật cười. Quan trọng là cách người ta đo đạc và mục tiêu thật sự. Tôi hi vọng đến một kết quả toàn diện. Vì tôi cho rằng chỉ khi hiểu biết toàn diện về đời sống thì mới quản lý được nó. Tôi hi vọng có được một sự quản lí toàn diện và chi tiết đời sống xã hội. Đó là hi vọng, và vấn đề của hi vọng đó là có thực hiện được nó từ việc hiểu biết sâu sắc và chắc chắn phạm vi của đời sống xã hội hay không.
Phạm vi đời sống cá nhân, hay phạm vi đời sống cộng đồng và xã hội thật sự có quan hệ với nhau theo phạm trù của triết học. Đo lường ở mức cá nhân hay xã hội thật sự đều không phải là đơn giản vì ngay quá trình đo lường cũng không giới hạn cho người thực hiện bao nhiêu đại lượng - khái niệm. Tiếp theo là sự mù dở khi triển khai khái niệm thành các chiều kích. Không có điểm bắt đầu và kết thúc. Tôi vẫn hi vọng.
Trong nhiều trường hợp đã xảy ra thường xuyên trong các ngành khác, người ta chỉ cần sử dụng một hệ thống các đại lượng nhất định để đo đạc. Tôi nghĩ rằng cũng có thể làm thế khi đo lường một khía cạnh nhất định của phạm vi đời sống. Và điều đó thì nhiều rồi, đã thành kinh điển.
Khách quan hay không khách quan, dường như mọi thứ chỉ có thể xác định khi công việc thực hiện được. Tôi sẽ cứ để ở đây mọi thứ trong hi vọng. Giả thuyết mang trong nó niềm hi vọng.
Sự thật đời sống có khi nào, khi trở nên lý thuyết hóa, trở thành thứ phi thực tế? Tôi đang hỏi chứ không nhằm mục đích gì khác. Bàn tay tôi trắng. Sự thật diễn ra rằng quản lý đời sống là một điều tất yếu xảy ra ở mọi mặt đời sống, mọi phân tầng và mọi lĩnh vực xã hội. Tôi thấy người ta đề ra sự quản lí tổng hợp và sự quản lý chuyên sâu. Cũng hợp lý. Nhưng tôi chỉ e sợ đó là cái vỏ ngoài hợp lý của những bất cập trong lòng. Vấn đề quay ngược ở lại nội hàm của phạm vi đời sống. Mọi cá nhân, nhóm cá nhân, tập đoàn người và toàn xã hội đều có phạm vi đời sống riêng - ý tôi là tôi đang cho đây là giả thuyết - thì phạm vi đời sống ấy cụ thể gồm cái gì? Nếu ở đó có đời sống vật chất và đời sống tinh thần, thì bên trong từng thứ ấy có gì nữa? Tôi nghĩ rằng phân chia hời hợt thì quản lý sẽ hời hợt. Thực tiễn đời sống bộc lộ rất rõ, nhưng tôi lại e sợ rằng thực tế lý thuyết không phản ánh đầy đủ. Khi không hiểu, không thể làm gì. Khi hiểu không rõ, sẽ làm bậy hay lần mò. Chắc đó là lúc chủ nghĩa kinh nghiệm xuất hiện. Ông Thanh Lê đã lên tiếng phê phán xã hội học Mỹ mang tính "kinh nghiệm chủ nghĩa", "tan vỡ thành từng mảnh". Chỉ e là ở đâu đó, sự quản lí xã hội, lý thuyết quản lý xã hội cũng đầy "kinh nghiệm", tự trải nghiệm hay học lại từ nơi khác, và "vỡ tan thành từng mảnh" (mảnh lĩnh vực và mạnh địa lí?) hay theo một mục đích nào khác. Mà chắc là không, tôi chỉ e sợ.
Tôi đang hi vọng rằng quản lý được thực hiện từ sự hiểu biết về đời sống. Phải, như tôi còn nhắc lại nhiều lần nữa. Tôi hi vọng vì tôi thấy điều đấy khó, khó bởi tính chất của phạm vi đời sống: (1) không có điểm bắt đầu và kết thúc cho một cuộc truy tìm, (2) có quá nhiều mức độ của đối tượng để tìm hiểu - cá nhân, nhóm cá nhân, tập đoàn người hay theo phạm vi địa lý... Mà có khi phạm vi địa lý là một chiều trong n chiều của phạm vi đời sống. Không phải chỉ là quản lý tổng hợp hay quản lý chuyên sâu, mà còn là quản lý ở mức độ nào của tập thể cộng đồng xã hội. Đương nhiên, quản lý đời sống xã hội là quản lý cả một cộng đồng to lớn. Nhưng sự tôn trọng của nhà quản lý đặt vào đâu nơi cộng đồng? Họ đặt vào từng cá nhân, từng gia đình, từng nhóm xã hội, từng nhóm lợi ích hay theo một ý đồ nào khác là cách riêng của họ. Ví dụ người ta có thể quy hoạch những cơ sở thiết yếu (trường học, bệnh viện, chợ búa...) ra ngoại thành để thay đổi sự di chuyển của từng cá nhân, thay đổi hệ thống giao thông mà không cần biết đến điều kiện của những cá nhân bị ảnh hưởng. Người ta thực hiện điều đó vì sự tôn trọng với một điều khác như kinh tế, chính trị... Họ có nhiều cách để đạt được điều họ muốn, cho dù cách của họ tỏ ra không thông minh.
Tôi đã che giấu một điều từ những dòng đầu cho đến đây. Khả độc giả nào biết có thể nhận ra, là tôi đã đem "không gian n chiều" từ sinh thái học qua đây. Tôi thấy mô hình ấy hay, và khi áp dụng cho con người, n chiều sẽ thành n + n + ... + n chiều. (Hay cũng chỉ là n chiều thôi? Vì con người đôi khi tự cho mình có đời sống xã hội phong phú hơn loài vật.) Môi trường sống của con người, xã hội người chính là môi trường n chiều đó. Quản lý đời sống, dựa trên hiểu biết về phạm vi đời sống, chính là sự quản lý môi trường sống n chiều của con người. Cá nhân quản lý đời sống riêng vì nhu cầu của cá nhân. Còn việc quản lý xã hội lại vì con người ở nhiều mức độ: con người cá nhân, con người trong tập thể, con người trong xã hội. Tôi có nhiều điều để chờ mong.
Tôi không phải là kẻ đi lạc thời đại qua mức, để không biến đến những chỉ số hạnh phúc mà các nhà khoa học trên toàn cầu đã tìm ra. Những chỉ số đó thật sự có thể giúp khám phá ra giới hạn của đời sống hiện đại. Tôi vẫn nghĩ quan trọng là phương pháp sử dụng những chỉ số đó. Khi có kết quả nói rằng Việt Nam là nước hạnh phúc nhất thế giới, nhiều người đã bật cười. Quan trọng là cách người ta đo đạc và mục tiêu thật sự. Tôi hi vọng đến một kết quả toàn diện. Vì tôi cho rằng chỉ khi hiểu biết toàn diện về đời sống thì mới quản lý được nó. Tôi hi vọng có được một sự quản lí toàn diện và chi tiết đời sống xã hội. Đó là hi vọng, và vấn đề của hi vọng đó là có thực hiện được nó từ việc hiểu biết sâu sắc và chắc chắn phạm vi của đời sống xã hội hay không.
Phạm vi đời sống cá nhân, hay phạm vi đời sống cộng đồng và xã hội thật sự có quan hệ với nhau theo phạm trù của triết học. Đo lường ở mức cá nhân hay xã hội thật sự đều không phải là đơn giản vì ngay quá trình đo lường cũng không giới hạn cho người thực hiện bao nhiêu đại lượng - khái niệm. Tiếp theo là sự mù dở khi triển khai khái niệm thành các chiều kích. Không có điểm bắt đầu và kết thúc. Tôi vẫn hi vọng.
Trong nhiều trường hợp đã xảy ra thường xuyên trong các ngành khác, người ta chỉ cần sử dụng một hệ thống các đại lượng nhất định để đo đạc. Tôi nghĩ rằng cũng có thể làm thế khi đo lường một khía cạnh nhất định của phạm vi đời sống. Và điều đó thì nhiều rồi, đã thành kinh điển.
Khách quan hay không khách quan, dường như mọi thứ chỉ có thể xác định khi công việc thực hiện được. Tôi sẽ cứ để ở đây mọi thứ trong hi vọng. Giả thuyết mang trong nó niềm hi vọng.
Sự thật đời sống có khi nào, khi trở nên lý thuyết hóa, trở thành thứ phi thực tế? Tôi đang hỏi chứ không nhằm mục đích gì khác. Bàn tay tôi trắng. Sự thật diễn ra rằng quản lý đời sống là một điều tất yếu xảy ra ở mọi mặt đời sống, mọi phân tầng và mọi lĩnh vực xã hội. Tôi thấy người ta đề ra sự quản lí tổng hợp và sự quản lý chuyên sâu. Cũng hợp lý. Nhưng tôi chỉ e sợ đó là cái vỏ ngoài hợp lý của những bất cập trong lòng. Vấn đề quay ngược ở lại nội hàm của phạm vi đời sống. Mọi cá nhân, nhóm cá nhân, tập đoàn người và toàn xã hội đều có phạm vi đời sống riêng - ý tôi là tôi đang cho đây là giả thuyết - thì phạm vi đời sống ấy cụ thể gồm cái gì? Nếu ở đó có đời sống vật chất và đời sống tinh thần, thì bên trong từng thứ ấy có gì nữa? Tôi nghĩ rằng phân chia hời hợt thì quản lý sẽ hời hợt. Thực tiễn đời sống bộc lộ rất rõ, nhưng tôi lại e sợ rằng thực tế lý thuyết không phản ánh đầy đủ. Khi không hiểu, không thể làm gì. Khi hiểu không rõ, sẽ làm bậy hay lần mò. Chắc đó là lúc chủ nghĩa kinh nghiệm xuất hiện. Ông Thanh Lê đã lên tiếng phê phán xã hội học Mỹ mang tính "kinh nghiệm chủ nghĩa", "tan vỡ thành từng mảnh". Chỉ e là ở đâu đó, sự quản lí xã hội, lý thuyết quản lý xã hội cũng đầy "kinh nghiệm", tự trải nghiệm hay học lại từ nơi khác, và "vỡ tan thành từng mảnh" (mảnh lĩnh vực và mạnh địa lí?) hay theo một mục đích nào khác. Mà chắc là không, tôi chỉ e sợ.
Tôi đang hi vọng rằng quản lý được thực hiện từ sự hiểu biết về đời sống. Phải, như tôi còn nhắc lại nhiều lần nữa. Tôi hi vọng vì tôi thấy điều đấy khó, khó bởi tính chất của phạm vi đời sống: (1) không có điểm bắt đầu và kết thúc cho một cuộc truy tìm, (2) có quá nhiều mức độ của đối tượng để tìm hiểu - cá nhân, nhóm cá nhân, tập đoàn người hay theo phạm vi địa lý... Mà có khi phạm vi địa lý là một chiều trong n chiều của phạm vi đời sống. Không phải chỉ là quản lý tổng hợp hay quản lý chuyên sâu, mà còn là quản lý ở mức độ nào của tập thể cộng đồng xã hội. Đương nhiên, quản lý đời sống xã hội là quản lý cả một cộng đồng to lớn. Nhưng sự tôn trọng của nhà quản lý đặt vào đâu nơi cộng đồng? Họ đặt vào từng cá nhân, từng gia đình, từng nhóm xã hội, từng nhóm lợi ích hay theo một ý đồ nào khác là cách riêng của họ. Ví dụ người ta có thể quy hoạch những cơ sở thiết yếu (trường học, bệnh viện, chợ búa...) ra ngoại thành để thay đổi sự di chuyển của từng cá nhân, thay đổi hệ thống giao thông mà không cần biết đến điều kiện của những cá nhân bị ảnh hưởng. Người ta thực hiện điều đó vì sự tôn trọng với một điều khác như kinh tế, chính trị... Họ có nhiều cách để đạt được điều họ muốn, cho dù cách của họ tỏ ra không thông minh.
Tôi đã che giấu một điều từ những dòng đầu cho đến đây. Khả độc giả nào biết có thể nhận ra, là tôi đã đem "không gian n chiều" từ sinh thái học qua đây. Tôi thấy mô hình ấy hay, và khi áp dụng cho con người, n chiều sẽ thành n + n + ... + n chiều. (Hay cũng chỉ là n chiều thôi? Vì con người đôi khi tự cho mình có đời sống xã hội phong phú hơn loài vật.) Môi trường sống của con người, xã hội người chính là môi trường n chiều đó. Quản lý đời sống, dựa trên hiểu biết về phạm vi đời sống, chính là sự quản lý môi trường sống n chiều của con người. Cá nhân quản lý đời sống riêng vì nhu cầu của cá nhân. Còn việc quản lý xã hội lại vì con người ở nhiều mức độ: con người cá nhân, con người trong tập thể, con người trong xã hội. Tôi có nhiều điều để chờ mong.
Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013
không thể viết nhiều - khi muốn tạo ra tính tiêu cực trong vấn đề thì chỉ cần không thừa nhận
Tôi luôn cố giữ gìn trạng thái suy tư của bản thân. Não bộ phải hoạt động. Vì điều đó khiến tôi có cảm giác mình đang sống. Mỗi ngày tôi suy nghĩ nhiều hơn, chính như đó là ước mơ của riêng tôi. Hay là thứ mang lại cho tôi cảm giác nhân bản trong đời sống.
Tôi không muốn chính mình tự bó hẹp mình. Phạm vi đời sống của tôi phải ngày càng được mở rộng. Ít nhất là về mặt lý trí, về khả năng cảm nhận, về sự hiểu biết. Dù cho cũng phải thừa nhận rằng nhiều mặt khác trong đời sống của tôi bị giới hạn. Cảm giác giống như tôi ngồi trong một chiếc hộp có chiều mặt. Người khác nhìn thấy tôi trong không gian với diện mạo như tôi mỗi ngày. Còn tôi nhìn tôi như thế nào nếu không phải nhìn qua các giới hạn của đời sống. Tôi nhìn chính tôi qua khả năng kinh tế: số tiền phải tiêu, qua sức khỏe: thuốc men hằng ngày phải uống, qua khả năng: những gì có thể làm hằng ngày... Hay tôi nhìn mình qua chính đôi mắt của xã hội? Xã hội nhìn tôi qua những gì tôi làm được. Cái nhìn của xã hội khi nào là cái nhìn khách quan? Vì xã hội đâu thấy được nội tâm của tôi. Tôi phải tự nhìn mình như thế nào? Phạm vi đời sống của tôi là một không gian n chiều, những nhiều bị giới hạn: vừa tự do vừa tù túng.
Xã hội học có nói về khác biệt xã hội. "Khác biệt xã hội là gì? Là sự khác biệt giữa các cá nhân trên cơ sở những đặc điểm và đặc trưng xã hội như kinh tế, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, chủng tộc, tuổi, giới tính, v...v..." Vậy khác biệt xã hội có phải là cơ sở hình thành nơi đời sống của tôi những giới hạn? Hay sự thật diễn ra theo chiều ngược lại? Những giới hạn trong các mặt đời sống của tôi khác với những giới hạn trong đời sống của một ai đó bất kì. Có phải từ đó mà người ta nhìn ra các khác biệt xã hội? Nhưng lỡ những giới hạn đó giống nhau giữa những người khác nhau? Nếu tôi giàu thì cũng có người khác giàu. Nghèo thì không phải chỉ có mình tôi. Kẻ đòi hỏi thưởng thức nghệ thuật không phải có mình tôi và cũng không phải chỉ có mình tôi biết sống trong tình cảm. Từ khi nào những tập đoàn người có chung những đặc điểm nhất định đã hình thành? Tôi không bao giờ muốn đặt nặng vấn đề vật chất hơn vấn đề lý trí trong đời sống, nhất là khi nhìn nhận đời sống xã hội.
Giới hạn hay không giới hạn? Khách quan hay chủ quan? Đến cùng thì tôi không biết. Nếu có ai đó đủ khả năng bóc trần mọi mặt trong đời sống này, tôi mới hiện rõ trước xã hội và trong mắt tôi là tôi đúng hay sai. Có phải khát khao hạnh phúc, khát khao không bị trói buộc trong những nhu cầu thiết yếu nhất và mở rộng nhu cầu là đặc trưng mang chất nhân bản của con người?
Và tôi phải nói gì về "phạm vi đời sống" của cả một cộng đồng hay một xã hội?
Xã hội học có nói về khác biệt xã hội. "Khác biệt xã hội là gì? Là sự khác biệt giữa các cá nhân trên cơ sở những đặc điểm và đặc trưng xã hội như kinh tế, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, chủng tộc, tuổi, giới tính, v...v..." Vậy khác biệt xã hội có phải là cơ sở hình thành nơi đời sống của tôi những giới hạn? Hay sự thật diễn ra theo chiều ngược lại? Những giới hạn trong các mặt đời sống của tôi khác với những giới hạn trong đời sống của một ai đó bất kì. Có phải từ đó mà người ta nhìn ra các khác biệt xã hội? Nhưng lỡ những giới hạn đó giống nhau giữa những người khác nhau? Nếu tôi giàu thì cũng có người khác giàu. Nghèo thì không phải chỉ có mình tôi. Kẻ đòi hỏi thưởng thức nghệ thuật không phải có mình tôi và cũng không phải chỉ có mình tôi biết sống trong tình cảm. Từ khi nào những tập đoàn người có chung những đặc điểm nhất định đã hình thành? Tôi không bao giờ muốn đặt nặng vấn đề vật chất hơn vấn đề lý trí trong đời sống, nhất là khi nhìn nhận đời sống xã hội.
Giới hạn hay không giới hạn? Khách quan hay chủ quan? Đến cùng thì tôi không biết. Nếu có ai đó đủ khả năng bóc trần mọi mặt trong đời sống này, tôi mới hiện rõ trước xã hội và trong mắt tôi là tôi đúng hay sai. Có phải khát khao hạnh phúc, khát khao không bị trói buộc trong những nhu cầu thiết yếu nhất và mở rộng nhu cầu là đặc trưng mang chất nhân bản của con người?
Và tôi phải nói gì về "phạm vi đời sống" của cả một cộng đồng hay một xã hội?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)