Thứ Tư, 12 tháng 8, 2015

Tôi đi học

Hôm nay là ngày trở lại trường học. Tuy nhiên không phải cái ngày trọng đại khi kỳ nghỉ hè của đứa trẻ cấp hai kết thúc, trở lại trường để xem tên mình trong bảng thông báo dài ngoằng dán đâu đó, để biết năm học tiếp theo sẽ ngồi ở lớp nào, bạn nào cũ, bạn nào mới và lẳng lặng mà hồi hộp chờ đợi giáo viên của từng bộ môn xuất hiện: Bà cô già khằn, ông béo khó tính hay một gương mặt giản dị hiền lành mà đứa học sinh nào trong trường cũng quý mến. Những định khiến thiên vị đó có lúc đúng có lúc sai lại có lúc tinh tế đến lạ lùng, là một cách giới thiệu những bài học đầu tiên về con người theo lối không chính thức nhất, biến thế giới ngầm của đám học sinh trở nên màu sắc hơn.

Rồi màu sắc cũng nhạt dần. Mọi thứ nhìn nhận bắt đầu đóng khung trong bộ não. Ngày trở lại trường thủa cấp ba trở thành việc chấp nhận quay lại với cuộc sống không thể khác hơn được. Nhưng đội ơn trời đâu đấy vẫn còn ít niềm vui. Có khi là vui ngây ngất, bởi người ta vẫn nói thời học sinh là vui nhất. Năm học mới không còn sự hồi hộp khi chuyển lớp, không lo lắng việc đổi chỗ, không câm lặng đóng tiền mua các loại logo, phù hiệu. Một lần, người ta in sai tên trường, và cả bọn học sinh đã được phen náo loạn. Gì thì gì, tên trường vẫn là một thứ đặc biệt, thậm chí thiêng liêng, không ai được động vào. Năm ấy, khi chiếc phù hiệu thêu với chỉ các màu đã thành truyền thống bị thay bằng loại in sẵn, đem về ủi nóng lên cho dính vào áo, nhiều đứa tiếc hùi hụi. Và con người to lớn mập mạp vẫn bị đồn thổi là nguyên nhân của nhiều nề nếp mới lạ trong trường lại nhận thêm vô số ánh mắt dè bỉu từ sau lưng. Này thì phù hiệu, này thì logo. Để đối đáp lại chính sách được cho là phô trương ấy, đứa thì dùng băng keo hai mặt dán hờ, đứa thì nhất quyết không dán, mặc áo khoác che kín ngực và tay, cốt làm sao cho giám thị không thấy là được. Cuộc tẩy chay bắt đầu. Dù không được bao lâu, nhưng mấy chuyện đó làm năm học khởi động trong không khí náo nhiệt. Cái hừng hực ấy luôn có ở ngôi trường trẻ với đầy người trẻ. Chúng tôi tạo ra bản sắc của chính mình chứ không thừa kế bất kì danh xưng nào, sống với cái mình tạo nên thật hạnh phúc. Nhưng rồi không biết nó sẽ già đến mức nào, cũ kĩ như chính cái nơi tôi đứng hôm nay hay sao?

Hôm nay tôi trở lại trường đại học. Ngôi trường già cằn trông tội nghiệp xiết bao. Những gốc cây cụt nhánh đâm thẳng lên bầu trời xám xịt đã rách lủng thủng nhiều mảng trắng. Từng khoảnh sân như con vật kì dị ngoác mỏ nằm cô độc. Nó đã quá già đến nỗi bất kì sự việc nào xảy ra, chỉ ngày một ngày hai, lập tức tan vào trong quá khứ vô tận, như cái dạ dày nuốt chửng mọi thứ. Rồi nó cũng sẽ nuốt chửng tôi, như bao nhiêu người khác. Ánh sáng hắt ra hành lang từ nhiều phía, soi rõ rồi lại bôi nhòe từng đường nét của chân dung. Người ta nhận ra nhau không phải nhờ ánh mắt, đôi môi hay khuôn mặt mà bởi vóc dáng: quần jean áo thun, váy xòe, giày cao gót, ba lô hay túi xách. Từ mờ mịt, nhân hình hiện ra, nổi lên gò má, sóng mũi rồi chìm vào tăm tối của ánh mắt, tắt khuất đi. Phải chăng đó là kết cục vĩ đại của tạo hóa, đến từ bóng tối rồi trở về với bóng tối? Hay chỉ vì đại học dạy tôi nghĩ ngợi nhiều hơn trường học?

Vô số đôi cánh cửa cao khép kín và khóa chặt, tôi thấy rõ ở đây người ta không nghỉ hè, tuy sau trận bão đầu mùa chưa thấy những hư hại được sửa sang. Có lẽ cái hố đen thời gian còn sâu hơn cơn bão nhiều. Băng rôn, áp phích, hình ảnh được trưng kĩ càng. Bàn ghế ngổn ngang trong sảnh trang trọng. Khoảng tường cao chỉ còn lại ánh sáng đứng lui vào yên tĩnh. Đỏ và vàng, xanh lá và xanh dương thắm bật trong khung cảnh quá phần ảm đạm bởi tiết trời giữa mùa mưa. Có một thứ gì đó ở đây muốn vượt lên, nhưng rồi lại hụt hơi khuỵa xuống. Một vẻ dở dang và hơi chút hoang tàn khiến bất cứ ai nhìn thấy cũng xốn xao. Đám lá chuối ngược sáng tối sầm mặt mũi, khi tôi nhìn thấy, hằn học in lên nền trời cái dáng lưa tưa rách rưới. Kèo cột vuông góc lạ thường hóa thành hàng dài thập giá lớn tướng chạy dọc bên ngoài hội trường, cứ cách một quãng lại dựng lên lêu khuê. Một nữ tư vận áo xám thấp thoáng xuất hiện rồi biến mất ngay. Tôi cứ ngỡ mình mơ hoặc giả nơi này có một nhà thờ ẩn giấu. Nhưng chắc có lẽ vì gần đây tôi đọc quá nhiều tiểu thuyết Anh, cộng với sự mệt mỏi hằn lâu làm tâm trí không tỉnh táo. Tất cả những người đó tôi đều quen mặt cả rồi. Tôi không phải là một người có đạo, nên cũng chẳng quan trọng làm gì.

Một lần tôi theo người bạn vào nhà thờ, bởi bạn tôi có đạo, cần đi lễ, còn tôi không biết đi đâu cho hết quãng thời gian ấy. Gần như là tôi bị kẹt. Nhưng so với những gì xảy ra về sau, tôi mới hiểu rằng được nhìn thấy chung quanh có nhiều người thanh thản và hạnh phúc còn tốt hơn những thân người đông cứng rũ rượi chán nản. Quanh đi quẩn lại tôi vẫn chỉ đang nói về chuyện bị đóng khung: suy nghĩ, cảm xúc, hành động, kí ức hay chính tuổi thơ. Nếu những vết mực đỏ và đen ngoằn nghoèo có thể lấp đầy một lối sống tư sản, hưởng thụ, trụy lạc thì nó phải chăng cũng tạo ra vẻ thời thượng cùng địa vị xã hội mãi mãi? Tuổi thơ của tôi lèn chặt tiếng cười vỡ òa trong ván bài đen đỏ có tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, tốt. Từ sáng tới đêm, thâu đêm suốt sáng... Cuộc đời là canh bạc lớn, ăn được thua đền. Bên cỗ bài con, đứa trẻ bắt đầu học hỏi về nhân sinh vượt quá sức thấu hiểu của nó. Hai sắc màu hóa ra vạn trạng: tướng đen, pháo đỏ, sĩ điều, tượng thâm...  Tôi mang theo dấu đỏ hình bông hoa lặng lẽ bên dưới lô Hán tự loằng ngoằng của cây tam cúc vào đời, chua chát nhìn vô số con dấu tròn trịa đỏ chót đóng chặt tháng ngày vào cái xã hội đầy mưu toan của quyền lực, sức ảnh hưởng và sự sợ hãi. Vẫn là màu đỏ uy quyền, của máu, của lửa, của phù sa, của khăn cưới, của trầu cau, của chiếu hoa cạp điều. Như hôm nay, dù mọi thứ có bạc phơ, màu đỏ vẫn gan góc lì lợm từng mảng. Có đứng góc nào, nhìn về hướng nào, khi nhắm mắt lại, vẫn còn âm hưởng. Cuộc đời là canh bạc.

Hôm nay tôi đi học.











Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

một kiếp người một cõi thần

Hà Nội, ngày 28/7/2015. 

Từ ngày 24 đến nay, trời nắng nhẹ, nhiều mây, đi ngoài phố không thể biết hướng nào là hướng Đông, chỉ có một bầu trời xam xám nơi những đám mây gợn nhẹ cắt hình không rõ rệt. Lòng phố chỗ ướt chỗ khô không thể lường trước, những nơi có đất biến thành sình lầy. Một thứ bùn xám nâu sẵn sàng bết lên giày dép khi người ta dẫm phải.

Trông thành phố mà buồn muốn khóc. Tôi không còn có thể ở đây như ngày xưa nữa. Đã không còn một mái nhà nào như thuở trước. Cảm ơn hai bạn trẻ đã cưu mang tôi trong những ngày buồn thảm giữa mùa hè này. Ơn này xin ghi lòng tạc dạ mãi không quên.

Không còn bánh rán, không còn tam cúc, không còn âm thanh lao xao buổi sáng, không còn tiếng róc rách của nước lọc qua miệng phễu chặn bông. Và có lẽ là chẳng còn điều gì nữa. Đời sống thật vắng lặng. Sự im lặng đến lạ thường.

Đường xa vạn lý, suốt hai mươi năm qua, tôi đã đi rất nhiều mà gần như hóa thành chưa đi đến đâu cả. Không có người thì làm sao có đất. Đất vắng người, tôi không biết tên gọi có ý nghĩa gì nữa chăng?

Hôm 24, tôi lên Bất Bạt, Ba Vì. Đi ngang cánh đồng vuông, nhìn những ngôi mộ cô đơn lạc lõng mà nghĩ đến tương lai như bức tường trắng lờ nhờ không hình ảnh. Bất kì ai rồi cũng sẽ nằm đó, cô đơn theo cách lạ lùng nhất có thể có. Trời mưa gió, đất trong mộ sụt xuống, cây cỏ bạt ngàn cao qua đầu gối mới thấy tạo hóa vô tình đến nhường nào. Mà con người còn vô tình hơn vậy.

Chiều 25, tôi cố gắng không quên đường về ngôi nhà cũ. Tôi tập đi trở lại từng bước chậm chạp, nhớ lại một quãng thời gian dài rồi nhận ra có nhiều người phải qua năm, qua tháng mới lộ rõ bản chất thật. Yêu thương và thù hận, nỗi đau mất mát bao trùm trên mọi thứ, tước đoạt đi giá trị gán lên mỗi thời khắc của đời sống. Giờ tôi không thù ai oán ai, không thương ai mến ai, tôi chỉ cứng đơ thân mình ngồi đó nhìn nước hồ còn xanh, nhìn những ngôi nhà với bao người xa lạ. Chanseaulme. Chanseaulme...

Làm sao tôi có thể kể cho bất kì ai nghe những điều nhỏ nhặt, linh tinh từ thời ấu thơ. Làm gì có ai lại cần thông cảm với những thứ nỗi niềm của một đứa trẻ. Làm sao nói ra được mùi vị của yêu thương đã mất đi, vòng tay bao bọc bao lâu nay bỗng một ngày không còn nữa. Chẳng thể nào.


Tôi đã dùng trọn thời gian của ngày 26 để lặng lẽ ngắm nhìn cuộc sống của hai bạn trẻ tại Hà Nội. Đất này có dễ sống không? Chẳng phải hai bạn sống thoải mái lắm sao? Chỉ có mình tôi là thờ ơ và vô cảm. Cũng chẳng rõ là vì đâu, thành phố này với tôi gắn liền với hình ảnh gia đình: một mái nhà to, một sân vuông nhỏ có giàn hoa giấy cùng cửa chớp và song hoa. Và tôi cho rằng hai bạn vậy là viên mãn. Bí mật của vùng đất này, nghìn năm văn hiến, không phải là những thứ hào hoa khoa trương, mà là sự khéo léo, tài năng của những kẻ nhập cư mang theo sức lực cùng ước mơ giàu có, như lịch sử của bao nhiêu lớp người vốn đã từng như thế, như thế...

Ngày 27, tôi bị lạc giữa 36 phố phường. Các con phố dài và đông đúc cứ đưa chân tôi đi mãi. Hàng Bông, Hàng Mành, Hàng Quạt, Hàng Gai, Hàng Cót, Hàng Mã, Hàng Đường... Cuối cùng tôi cũng tìm được đường ra chợ Đồng Xuân mà không phải dùng đến bản đồ. Hà Nội có rộng lắm không? Bao nhiêu năm qua, tôi chưa từng quan tâm vùng đất này có bao nhiêu con đường, bao nhiêu mẫu vuông. Hà Nội với tôi là câu chuyện trăm năm, trăm người, trăm nẻo gắn liền với số phận nhân sinh thăng trầm, tiến thoái. Chưa bao giờ, tôi không cần biết một Hà Nội loang lổ, lởm chởm mái tole, thùng nước, khoan cắt bê tông và rong rêu nhầy nhụa. Người Hà Nội rồi sẽ tinh tế trở lại, khi đồng tiền trên tay chắc chắn có thể bỏ được vào túi. Người Hà Nội giờ đây chỉ quan tâm đến việc làm giàu và lên đồng, những thứ thiết thực trong cuộc sống. Vắng xa rồi băng rôn biểu ngữ và khẩu hiệu nơi tâm trí, bữa cơm, chén nước cùng câu chuyện. Rồi có lẽ tôi sẽ trở lại nhiều hơn, khi vùng đất của thần và người hồi sinh đầy sức sống. 

Trong phòng chờ cho chuyến đi về, không biết tiếng quạt hay tiếng mưa, tôi chỉ nghe âm thanh rào rào bên tai không ngừng nghỉ. Tôi lại nhớ bài hát người lái xe mở trong chiếc taxi đi Yên Kì hôm trước: ai về có nhớ mình chăng, tôi về tôi nhớ hàm răng mình cười, ai về mua lấy miệng cười, riêng tôi mua lại mảnh đời ngây thơ..