Đối với những người vô cảm, thiếu tinh tế, đậm nhạt chỉ là từ sáng tới tối, hay ít cảm nhận hơn nữa, là từ đậm tới nhạt. Trong cảm giác trực diện đem đến qua cảm nhận thị giác, đậm nhạt là sáng tối được diễn tả bằng những cách thức trình bày duy nhất với những cấu trúc rung động.
Cách thức đường nét, mảng miếng: nét đen, nét trắng đan xoắn rối rít theo từng cách cho từng biểu hiện cảm xúc cụ thể, nét contour hằn đậm vị trí hình cho sự hình dung lý trí về đối tượng. Mảng đen mảng trắng phối hợp cùng nhau khi quan sát từ xa có thể cho thấy sắc độ của đậm nhạt, sáng tối.
Halftone là một dạng cấu trúc đen siêu nhỏ, lặp đi lặp lại theo tần số nhất định, biểu thị thành đậm nhạt. Bitmap là một dạng như vậy, có hình tròn, hình thoi, tam giác đủ thứ trên đời. Halftone cho ra hình ảnh vờn tả nhiều độ đậm nhạt, nhưng khô cứng trong biểu hiện.
Granulating là các điểm tròn, gần tròn, đa dạng kích thước, tập hợp thành cách biểu thị sáng tối đậm nhạt, đồng thời tạo cảm giác mảng xốp, biến chuyển giàu xúc cảm.
Layer và độ trong suốt. Ai cũng biết layer là lớp. Lớp màu mỏng, trong suốt cho ra hiệu quả sắc độ khác với lớp màu đục hay lớp màu dày, làm phong phú các biểu hiện.
Tại sao lại là Kathe Kollwitz? Bà là một họa sỹ đồ họa, hơn hết là một họa sỹ biểu hiện.
Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017
Chủ Nhật, 26 tháng 3, 2017
Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn còn nhiều phần lịch sử không biết phải tìm ở đâu.Video ngắn về ký họa Đông Dương, thực tế là tranh in đá, coi ở đây.
Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017
Triển khai, khẳng định và xác lập một tạo hình: một quá trình của tư duy
Hầu hết các kĩ thuật chất liệu tranh in mỹ thuật đều phải trải qua việc
thực hiện những công việc như sau:
Bước chế bản thực hiện tạo bản khắc/trổ trên vật liệu
tạo bản;
Bước lăn/bôi mực thực hiện với mực hay màu in phù hợp để
hình ảnh sẵn sàng cho việc in;
Bước in thực hiện với lực ép lớn và giấy in phù hợp,
chuyển hình ảnh từ bản khắc/trổ lên bề mặt giấy.
Bất kì một bước nào nếu thiếu đi, sẽ khiến quy trình in
không hoàn tất, không tạo ra được ấn phẩm. Điều này cho thấy sự quan
trọng của tính chất nhiều giai đoạn trong quy trình in ấn.
Với các công đoạn chính trong quy trình in tranh, ý đồ ban
đầu chuyển thành tạo hình trong tác phẩm. Xét về ý nghĩa đối trong
sáng tác, công đoạn chế bản đóng vai trò triển khai tạo hình tác
phẩm với dự tính về tính liên tục của vùng có mực. Công đoạn cung
cấp mực khẳng định tạo hình đã có bằng tính đồng
đều trong phân bổ của lớp mực. Công đoạn in xác lập tạo hình của
tác phẩm trên giấy in. Phải qua tất cả các công đoạn với ý nghĩa
tương ứng, ấn phẩm mới có được tạo hình cuối cùng. Mỗi một công
đoạn như vậy, còn cho phép người thực hiện lựa chọn – chấp nhận
những thay đổi phù hợp trong phạm vi cho phép.
Công việc chế bản chỉ mang một ý nghĩa triển khai
tạo hình, bởi lẽ tính chất bố cục của khuôn mẫu dùng cho việc
in, không phải là tạo hình tác phẩm. Trong tranh in màu, mỗi khuôn mẫu
phục vụ cho việc in một lớp màu, càng không phản ánh được tạo hình
cuối cùng. Chế bản cho tranh in khắc gỗ, in khắc kim loại, in đá thực
hiện với hình ảnh ngược của tạo hình tác phẩm. Chế bản tranh in
lụa tuy xuôi chiều, nhưng là âm bản. Do đó, công việc chế bản không
phải là tạo hình. Có trường hợp họa sỹ trưng bày mộc bản – ván
khắc của tranh in khắc gỗ, nhưng với các loại hình khác thì không
thể trưng bày các bản kim loại hay đá in, nên đó chỉ là một biểu
hiện nghệ thuật khác, liên quan đến tranh in khắc mà thôi.
Khẳng định tạo hình qua công việc cung cấp mực cho các khuôn
mẫu cho phép người thực hiện lựa chọn khu vực hình ảnh nào sẽ xuất
hiện như dự tính hoặc không và lựa chọn màu mực. Điều này là dễ
thấy nhất trong kỹ thuật in khắc kim loại, dù bản kim loại đã được
khắc nhưng không bôi mực hoặc chặn mực lại trong quá trình in, hình
ảnh sẽ khác đi (hình 29 và 30). Đối với kỹ thuật monotype, điều này
là không thể bởi cả hai công việc chế bản và cung cấp mực in đã hòa
thành một. Những sự thay đổi từ việc cung cấp mực, mang ý nghĩa
khẳng định lại tạo hình đã dự tính: chi tiết sự vật, màu sắc…
không làm phát sinh hay thay đổi các sắp xếp bố cục của tác phẩm.
Các ấn phẩm in ra có sự khác biệt trong giới hạn cho phép đó, vẫn là
bản gốc, được đánh số và ký tên trong cùng một tập tranh.
Công đoạn in mang ý nghĩa quan trọng, để xác lập
tạo hình của tác phẩm lên giấy. Bản chất của việc in được
xem như tiêu chí để phân loại ra các loại hình in nổi, in lõm, in xuyên
hay in phẳng. Đó cũng là cách mà tạo hình cuối cùng của tác phẩm,
qua phối hợp các phần hình – màu khác nhau, được hình thành, gồm cả
những dự tính về hình ảnh và những biểu cảm riêng của loại hình.
Những tiêu chuẩn về kỹ thuật trong việc in vì thế cần được tuân thủ,
vận dụng cho phù hợp.
Có thể hiểu quy trình in ấn gồm các công đoạn và một
tác phẩm in màu là sự lặp lại quy trình qua các màu để tạo ra kết
quả. Quy trình in ấn như vậy mà tùy theo số màu của tranh, sẽ phức
tạp hơn nhiều lần. Như trong lối in khắc gỗ phá bản, in màu nào
trước, màu nào sau đòi hỏi tác giả phải tính toán và lặp lại việc
in ấn một cách cẩn thận. Không chỉ đối với in khắc gỗ, cách in
chồng màu từ nhạt tới đậm còn có thể thực hiện với các loại hình
khác. Với tranh in màu, việc triển khai – khẳng định – xác lập tạo hình không chỉ xảy
ra theo công đoạn chế bản – cung cấp mực – in, mà lặp lại theo cả số
màu. Người thực hiện như vậy có nhiều hơn một lượt tư duy, lựa chọn
và chấp nhận kết quả của công việc in ấn.
Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017
Một số tính chất tác động đến ấn phẩm
Ngày trước, chúng ta có Đồ họa nét mảng đậm nhạt. Ngày nay, chúng ta có cả Tự do. Tự do trong suy tưởng, tự do trong cảm xúc và tự do trong thực nghiệm.
Người thợ quen tay nghề. Người thực nghiệm luôn suy nghĩ.
----------------------------------------
Nói tới in ấn, là nói tới quy
trình, bắt đầu từ ý đồ tạo hình của tác giả tới ấn phẩm cuối
cùng, được ký tên, đánh số để xuất bản. Quy trình như vậy, đòi hỏi
những tiêu chuẩn về kỹ thuật. Với số loại hình tranh in phong phú, đa
dạng, nhưng bản chất thực nghiệm theo quy trình của nghệ thuật tranh
in là không đổi.
Tính chất thực nghiệm là tính
chất, yêu cầu quan trọng nhất trong tất cả các thực hành nghệ thuật.
Tính thực nghiệm chính là kết quả của sự tư duy, lao động, rèn
luyện và là nền tảng cho sự chân thực của tác phẩm. Tính thực
nghiệm tồn tại trong mỗi ấn phẩm, chính là quá trình in ấn, bởi để
có được ấn phẩm, người họa sỹ đã phải thực hiện qua từng công đoạn
mà không thể làm tắt, bỏ bớt.
Phác thảo
của tác phẩm nếu không trải qua thực nghiệm sáng tạo, thông qua in ấn
thì chỉ là một triển khai ý tưởng, một thiết kế. Tính thực nghiệm càng khẳng định hơn
mối liên hệ không thể tách rời giữa kĩ thuật và hình thức – nội
dung tác phẩm. Trong lịch sử ngành nghề có thể thấy, từ bản thảo,
phải qua tay rất nhiều người thợ để đưa đến bản in cuối cùng: sao
chép, chế bản, chuẩn bị mực, giấy và in. Ví dụ tranh dân gian truyền
thống của nước ta, là kết quả từ sự khéo léo thực hành giữa các
khâu: sáng tác, chế bản và in của tập hợp các nghệ nhân. Ngày nay
trong quan niệm hiện đại, người nghệ sĩ khai thác tối đa quy trình theo một cách chi
tiết đến từng thao tác để có thể diễn tả được tác phẩm trong chất liệu và sự tìm
tòi cá nhân. Đó cũng là lúc tính thực nghiệm càng được đề cao hơn hết, cốt làm sao
tìm được sự dung hòa giữa truyền thống và hiện đại.
Mà thực nghiệm chính là thực hành
các giai đoạn in ấn. Qua thực nghiệm, quá trình in ấn thể hiện tính
nhiều giai đoạn, tạo nên sự đặc biệt của tranh in so với hội họa,
điêu khắc hay các loại hình khác. Do đó tính nhiều giai đoạn cũng là
một tính chất quan trọng của quá trình in ấn, thể hiện một cách tự
nhiên qua các công đoạn, trong bản thân cách thức sáng tác, lập phác
thảo, dự tính thao tác chế bản, số lớp in: tách các màu, các loại
nét và mảng… Với mối liên hệ đó, các giai đoạn trong quy trình tỏ
rõ vai trò làm hoàn thiện tác phẩm, chứng minh kỹ thuật và nội dung
– hình thức tác phẩm là những vấn đề không thể tách rời.
Có thể thấy rõ qua quy trình in
tranh dân gian của nước ta, khi nó đòi hỏi giữa nghệ nhân khắc ván và
nghệ sĩ vẽ mẫu sự ăn ý. Việc chuyển bản vẽ mẫu lên gỗ khắc là
nguyên nhân chính, vì nó cần sự chu đáo, đảm bảo được cả mặt kĩ
thuật và nghệ thuật. Kích thước của ván khắc phải có kích thước
được tính toán để việc in tranh tiếp sau đó thuận tiện nhất. Từng
bước như vậy, tạo ra tính nhiều giai đoạn của công việc và tính thực
nghiệm trong từng khâu sáng tạo.
Tính nhiều giai đoạn giống nhau
trong tất cả kĩ thuật chất liệu khác nhau: gồm nhiều bước tiến hành
không thể thay thế. Sự khác nhau về chi tiết hay thứ tự phụ thuộc
vào đặc tính của mỗi loại hình. Hầu hết các kĩ thuật chất liệu
đều phải trải qua việc thực hiện những công việc như sau:
Bước chế bản thực hiện tạo bản
khắc/trổ trên vật liệu tạo bản;
Bước lăn/bôi mực thực hiện với mực
hay màu in phù hợp để hình ảnh sẵn sàng cho việc in;
Bước in thực hiện với lực ép lớn
và giấy in phù hợp, chuyển hình ảnh từ bản khắc/trổ lên bề mặt
giấy.
Bất kì một bước nào nếu thiếu đi,
sẽ khiến quy trình in không hoàn tất, không tạo ra được ấn phẩm. Điều
này cho thấy sự quan trọng của tính chất nhiều giai đoạn trong quy
trình in ấn. Như một hậu quả kéo theo, tính chất thực nghiệm khi đó
cũng không thể được đảm bảo, ảnh hưởng trực tiếp đến tác phẩm,
không mang lại được đặc trưng loại hình.
Tính
nhiều giai đoạn, phụ thuộc vào thực nghiệm, được phản ánh qua sự
khác nhau ở một mức độ tương đối giữa các bản in trong một tập
tranh. Điều đó có nghĩa là, với cùng một cách chế bản, thì cách
dùng mực và in khác nhau tạo ra kết quả khác nhau: màu sắc khác
nhau, chất màu khác nhau… Mỗi bước trong quá trình in ấn luôn có thể xảy ra
sai sót, khiến phác thảo ban đầu trở nên hoàn toàn khác so với kết
quả cuối cùng. Tác phẩm chịu sự biến đổi qua các bước khác nhau
đó, trở nên khá phức tạp cho việc truy nguyên kỹ thuật chỉ bằng cái
nhìn. Hầu hết các sách hướng dẫn thực hành đều chú trọng đến yêu
cầu kỹ thuật để đảm bảo chất lượng tác phẩm. Nhưng do tính thực
nghiệm thể hiện bất kì lúc nào trong quá trình sáng tác, mỗi bản
in trong cùng một tập tranh trên nguyên tắc đều là bản gốc, nên tác giả có thể thay đổi trong phạm vi cho phép để diễn đạt ý tưởng.
Thứ Ba, 31 tháng 1, 2017
lại là khắc gỗ
Vừa qua, một họa sỹ Thái Lan, tên gọi Pra - quen Pi - ang - chôm - pư, đã đạt được giải nhất toàn Asean về Printmaking. Cuộc thi được tổ chức tại Việt Nam. Điều đáng nói là, họa sỹ này trước đó đã đạt được nhiều giải quan trọng trong các triển lãm từ vùng Ural xa xôi, đến các xứ Đông Á như Thẩm Quyến, Đài Loan và phần thưởng từ Nữ hoàng Na - uy.
Với một seri tranh liên tục được sáng tác bằng kỹ thuật in khắc gỗ trong nhiều năm nay, mang tên Sâu thẳm trong tâm hồn, họa sỹ người Thái này đã làm được một điều rất xứng đáng để nhận được tất cả các phần thưởng và danh dự như trên. Hơn hết, có lẽ cần có một vị trí đặc biệt cho họa sỹ này trong lịch sử Printmaking của toàn nhân loại bởi điều mà họa sỹ này làm được là chưa từng có, và vô cùng ý nghĩa trong sự phát triển của nghệ thuật biểu hình trong ngôn ngữ in ấn.
Tranh in khắc gỗ Việt Nam đã đến thời cáo chung.
Đầu tiên, nói về kỹ thuật, họa sỹ làm cho tất cả những người xem không thể tin nổi rằng tranh đó được in bằng kỹ thuật khắc gỗ. Mà thật sự đó không phải là phương pháp khắc đục nhàm chán như ở ta vẫn làm xưa nay. Cách là của người này rất độc đáo: vừa khắc vừa cạo. Nói thêm về kỹ thuật, ở ta trước giờ rất lộn xộn. Gắn mãi với những loại hình thủ công mỹ nghệ, lý luận của ta chưa bao giờ phân biệt được các thủ pháp, phương pháp thao tác trong việc in khắc gỗ mỹ thuật (tất cả những kiến thức trước giờ đa phần là thủ công mỹ nghệ và lệ thuộc Trung Quốc). Về tạo dựng hình ảnh, sơ sơ thì theo tiếng Anh có wood engraving, woodblock - woodcut. In cho thành tranh màu, thuật ngữ tiếng Anh phân biệt cơ bản như sau: multi woodblock/ multiblock woodcut/ multi color woodcut, reduction woodcut. Để trình bày tường tận tất cả những cách dùng thuật ngữ gắn với các cách làm cụ thể, e rằng phải tốn ít nhất cả một chương trong sách, hoặc là cả nội dung của một cuốn sách thì mới làm nổi. Nói như vậy để thấy, chúng ta ôm ấp mãi phường thủ công, để rồi ngay cả chính chúng ta cũng không cách tân cái phường thủ công ấy lên được. Cho đến giờ, các nhà lý luận vẫn còn vồn vã với mộc vị và dao vị, thì đến bao giờ chúng ta mới học được cách vừa khắc vừa cạo như người Thái, chứ chưa nói tới phát triển một kỹ thuật riêng của chúng ta.
Thứ hai, về ngôn ngữ, họa sĩ trên đã tạo ra những tác phẩm với ngôn ngữ độc đáo, tinh tế mà cô đọng trong miêu tả không gian, vừa đồ họa đó mà vừa đậm tính biểu hình tả thực. Không hề có nét, có mảng, sao gọi là đồ họa? Đó là vì sự cô đọng về màu, về đậm nhạt và quan trọng hơn hết là cô đọng về sự diễn đạt không gian. Đi sâu vào diễn đạt không gian, mô tả những sự vật trong không gian chung, tạo ra vẻ hòa hợp của chúng, khắc họa nên hình ảnh chân thực về không gian đó, là một trong những mục đích cơ bản của nghệ thuật biểu hình. Đa phần, tranh in khắc gỗ cho ra một kiểu cô đọng không gian thái quá, đập bẹt không gian và đòi hỏi một sự cảm nhận mang cả lý trí trong đó. Người Thái ấy không buộc ta phải suy nghĩ. Ánh sáng trong tranh ấy vẫn cô đọng, cái gì thừa thãi bỏ đi, nhưng cảm nhận thị giác về không gian là trực tiếp, đầy cảm quan trừu tượng.
Những nỗ lực mô tả không gian đầu tiên trong tranh in khắc gỗ màu, có lẽ là lối chiaroscuro woodblock của nghệ thuật Phục hưng. Những ván gỗ với các phần mảng, nét mang sắc độ từ đậm đến nhạt riêng biệt của một hình ảnh được in lần lược để mô tả khối, bề mặt và chi tiết của sự vật. Những tranh in khắc gỗ ở thời Phục hưng mang tính nghiên cứu cao về biểu diễn cô đọng một không gian cũng như cấu trúc sự vật.
Một trong những nỗ lực tiếp theo có lẽ là phương pháp mà ta vẫn gọi là in khắc gỗ phá bản, mà đặc trưng kỹ thuật vẫn thường thấy trong việc thao tác của các họa sỹ là in rất nhiều màu và khắc tỉ mỉ rất cực. Tiếp theo theo thiển ý của người viết chính là kỹ thuật in khắc phá bản, đi với ngôn ngữ của nó, không phải từ trên trời rơi xuống, không phải là một sản phẩm dân gian, mà là sản phẩm của sự phát triển ngôn ngữ biểu hình trong tranh in khắc gỗ. Bởi vậy, biểu hình như thế nào, xây dựng không gian trong tranh chân thực đến độ nào là một trong những mục đích cơ bản của nghệ thuật biểu hình chân chính. Mà in khắc gỗ phá bản, cho phép người làm cởi bỏ nét viền, mảng phẳng, phá bỏ tư tưởng đã ăn dầy ăn sâu về tính đồ họa chỉ có nét với mảng cùng một không gian bẹt bẹt, chính là một lợi thế khá mạnh.
Vượt lên hơn thế nữa, một tranh gọi là in khắc gỗ nhưng không hề có nét khắc, không hề có những lớp màu phân biệt, mà ở đó chỉ có những chuyển biến màu, chuyển biến ánh sáng, là một sự phát triển sau cùng cho đến ngày hôm nay. Tương lai kia, ngôn ngữ ấy có còn đạt được những thành quả mới hay dừng chân nghỉ mệt, là điều ai cũng phải chờ đợi.
Trở lại với tranh của họa sỹ trên, chủ đề về nội thất là một chủ đề cũ, thậm chí là rất cũ. Theo dõi toàn bộ seri của họa sỹ này, có thể thấy anh không cố gắng dày vò nội dung trong tranh, không siêu thực, không fantasy, không nhiều tầng lớp hình ảnh... Điều này có thể làm cho một số người ưa thích những nội dung phức tạp bỡ ngỡ, không hiểu tại sao như vậy mà cũng đoạt giải. Trong seri này, một số bức có motif bố cục cơ bản, một số lại không thật sự độc đáo vì nhang nháng một số chi tiết ở tranh của các bậc thầy. Nhưng cái không gian ấy trong tranh in khắc gỗ, quả thực đã làm tất cả mọi khán giả khâm phục.
Đi vào miêu tả, chứ không phải đơn giản không gian, là một con đường đúng đắn và chông gai, nhất là ở tranh in khắc gỗ. Con đường ấy chông gai như chính nghệ thuật biểu hình cao quý. Ở ta, có một lực cản gì đó khá mơ hồ, khiến một số họa sỹ làm tranh in khắc gỗ đã bước một chân vào con đường ấy lại bước chân ra(!) Hoặc có lẽ là lỡ bước mà vào thôi, không được phép đâu nhé, phải dân tộc và hiện đại!
Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016
Nội dung - hình thức - kỹ thuật trong sáng tác tranh in
Nội dung và hình thức của tác
phẩm là hai khía cạnh không thể tách rời nhau trong một tác phẩm.
Mối quan hệ của chúng mang tính biện chứng, bổ sung và hoàn chỉnh
cho nhau. Đối với một tác phẩm in ấn, cách nhìn nhận, diễn đạt đối
tượng, không gian bao quanh đối tượng đó mang tính rõ ràng, cô đọng là
khác biệt so cách nhìn của hội họa hay điêu khắc... Và chắc hẳn ngoài nội dung về đối
tượng, đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, còn có những tình
cảm, cảm xúc của tác giả phản ánh qua biểu cảm riêng trong tác
phẩm, thứ biểu cảm được xây dựng bởi thủ pháp riêng về hình thức
của loại hình. Đi liền với nội dung là một hình thức liên quan phù
hợp – hình thức được xây dựng bởi phương pháp in ấn: Trong một thời gian dài phong cách hiện
thực được đề cao và mọi họa sỹ chấp nhận nó một cách tự nhiên […]
Từ hiện thực đến ký họa, rồi đến tranh in khắc gỗ đã là quá trình
chắt lọc rồi và đến đó không ai còn đòi hỏi bức tranh có tương tự
với tự nhiên hay không. Tinh chất khái quát tự nhiên và cách nhìn
nhận hiện thực nhiều hơn là sao chép vốn có ở tranh khắc gỗ (thủ
pháp riêng của loại hình) cho
thấy rõ điều này. (Hoàng Minh Phúc, sđd, trang 242 – 243)
Trở lại với các biểu hiện thường
thấy của tranh in nghệ thuật, gắn liền với phong cách hiện thực,
ngoài vấn đề nội dung phản ánh các mặt của đời sống thực tế, hình
thức mà tác phẩm đạt tới thường gắn với các tiêu chí đặc trưng,
điển hình và mang các giá trị chân – thiện – mỹ. Đối xử trước một
nền nghệ thuật dân gian cổ truyền mang nặng tính Đồ họa, tư duy của
người làm tranh in nước ta tỏ rõ sự ưu ái đối với việc khái quát
hóa đối tượng: qua nét và qua màu, xây dựng hình ảnh mang tính điển
hình, đặc trưng cao bằng hệ thống tạo hình với nét đen, mang nặng
tính Đồ họa với sự bổ sung màu để tạo hòa sắc. Trong hoàn cảnh
hiện tại, nhiều cách tân ở lối in ấn, ví dụ như kỹ thuật in khắc
gỗ phá bản cũng đã và đang được thực hành tại khoa Đồ họa, không
câu nệ đến việc viền hình, đi nét đen, nhưng lại tỏ ra hết sức hữu
hiệu khi diễn đạt không gian hiện thực, nhấn mạnh được trước – sau, chính
– phụ làm tăng hiệu quả diễn đạt nội dung điển hình, đặc trưng trong
tranh.
Sự giống nhau trong những cách làm
đó xảy ra ở quy trình in ấn. Phong cách hiện thực trong đặc trưng của
nó hướng tới nội dung cô đọng, điển hình và mang tính biểu hình cao,
đã khiến những lớp màu, mảng và nét nằm trong một quan hệ gắn bó,
bổ sung cho nhau trong mục đích tiên quyết là xây dựng một không gian
hiện thực duy nhất. Chỉ loại trừ phương pháp in offset và in lụa mang
nặng yếu tố công nghiệp, hầu như tất cả các loại hình tranh in đều
vận hành một quy trình như nhau đối với phương pháp sáng tác Hiện
thực. Một yếu tố quan trọng khác không thể bỏ qua, là biểu cảm của
loại hình, chất cảm từ vật
liệu mà phong cách hiện thực đem lại. Gắn với việc củng cố ý đồ
thể hiện không gian hiện thực, tác phẩm hầu như chỉ có một biểu cảm
đơn nhất: sự thô sơ ấm áp của loại hình in khắc gỗ, mềm mại tinh vi
trong loại hình in kim loại hay cảm giác đặc trưng mà tranh in đá
thường có… Biểu cảm đơn nhất đó, phải chăng là yếu tố quan trọng để
thúc đẩy cho sự diễn đạt một không gian đồng nhất, ngoài những yếu
tố đậm – nhạt, trước – sau?
Vậy còn những phương pháp sáng tác không phải hiện thực? Bởi nghệ thuật là một lĩnh vực gắn liền với quá trình tư tưởng - tư duy của con người, mà trong đó phản ánh cả thái độ, cảm xúc và tình cảm riêng tư, nên không thể có một trạng thái đơn nhất về phương pháp sáng tác, phong cách hay ngôn ngữ. Tranh in cũng vậy. Rõ ràng, kỹ thuật gắn bó với tạo hình của tác phẩm: nội dung cần có hình thức, hình thức là con đẻ của kỹ thuật. Nhưng sự gắn bó đó không đơn thuần chỉ trong một mối quan hệ mà hình thức củng cố cho nội dung. Trong những góc nhìn đa chiều, như thủ pháp đồng hiện, nghệ thuật Lập thể, Tượng trưng hay Siêu thực... hình thức của tranh in không hoạt động như sơn, như màu hay cọ. Mỗi một lớp màu có khả năng khắc họa một hình ảnh hoàn chỉnh, là kiến thức cơ bản như đã thấy trong thể loại in ấn đơn sắc. Sẽ là thực sự phức tạp, nếu mỗi lớp màu trong một tác phẩm in ấn màu không chỉ thể hiện một không gian, một đối tượng chứ không nói tới việc phải mất nhiều lượt in mới tạo ra một không gian như lối diễn tả hiện thực.
Nội dung và hình thức trong tạo
hình của tác phẩm có mối quan hệ mật thiết với kỹ thuật. Một mặt,
phương thức thể hiện của tác phẩm hiển nhiên phải phù hợp với thế
mạnh của từng loại hình. Mặt khác, quá trình sáng tác cũng là quá
trình tác giả sử dụng các vật liệu, chuyển tư duy, tình cảm, những
dự định trong phác thảo thành chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn. Do đó,
đây là quá trình cần đến sự hiểu biết và kinh nghiệm về sự tương
tác của các vật liệu đó. Trong tất cả các loại hình nghệ thuật nói
chung và tranh in nghệ thuật nói riêng, sự thành thạo về kỹ thuật hay
chính là hiểu được thế mạnh của mỗi loại hình có ảnh hưởng quyết
định to lớn đối với sự thành công của tác phẩm.
Thành thục trong kỹ thuật chất liệu là thành thục về cái mà loại hình đó có thể trình bày tốt nhất, cảm xúc mà loại hình đó có thể đẩy ra sự thể hiện toàn vẹn nhất. Thành thục trong sử dụng kỹ thuật chất liệu do đó không phải là một sự áng chừng về những yếu tố thị giác như đường nét, điểm chấm, mảng miếng... để gán lên đối tượng một cách thể hiện nặng tính công thức. Chỉ biết tới các yếu tố về thị giác mà quên đi biểu cảm riêng của từng loại hình - cái thực sự bày ra trên giấy là những lớp mực ánh màu sắc khác nhau - chỉ có một nghệ thuật Đồ họa chung chung mà không có một nghệ thuật in ấn cụ thể sinh động.
Trong lúc những họa sỹ đi trước lo lắng về sự toàn vẹn của chất liệu, bảo vệ truyền thống trong việc sử dụng kỹ thuật, vận dụng tính Đồ họa vào tạo hình, trong lúc những công trình lý thuyết có tầm vóc to hơn, được bảo trợ bởi trường quy vẫn vồn vã với mộc vị, dao vị trong tranh in khắc gỗ, thì người Thái đã có những cách tân trong kỹ thuật, phương pháp để đẩy sâu nội dung của sáng tác, dù không cần thoát ra khỏi phương pháp sáng tác hiện thực. Cũng là tranh in khắc gỗ, trong lúc một số họa sỹ đi trước xem dao khắc như cọ vẽ, nét khắc như vệt sơn, hoặc khắc trổ như phường thợ thì người Thái đã đẩy biểu cảm của tác phẩm lên tới mức đạt được sự uyển chuyển của màu sắc như hội họa mà vẫn cô đọng, thể hiện được nền tảng Đồ họa trong đó. Tranh in khắc gỗ Việt Nam, sắp đến hồi cáo chung, cũng vì người ta bỏ quên bản chất in ấn đáng phải có. Biểu cảm thật sự quan trọng tới đâu? Nó chính là một phần hai cơ sở lý luận cho việc hợp nhất các kỹ thuật chất liệu tranh in làm một. Mối quan hệ giữa nội dung - hình thức - kỹ thuật hiển hiện ở mức cao nhất của nó trong chiều sâu biểu hình - trừu tượng, tư duy - cảm xúc chứ không còn là lối thực hành quen tay.
------------------------------------------------------
Các bác, các cô chú anh chị và các bạn,
Tôi là tôi, ở đây duy nhất là tôi. Tôi có tên, danh xưng và bút hiệu. Trước khi muốn nói gì làm gì, nếu được thì cho tôi nhờ cậy một chuyện, nhắn với anh Khôi họ Ngô rằng anh không biết gì về sự khổ sở của ông ngoại anh, của gia đình anh, những người chung quanh gia đình anh thì đừng lên báo khoe khoang, kể lể. Nay anh đã ở cùng với con những kẻ làm khổ ông ngoại anh, gia đình anh, những người thân thiết quanh đây, anh chớ hạnh phúc. Cũng như nhiều người khác, họ gần như đấu tố, giam lỏng ông Nam Sơn, rồi khi cần họ lại lôi tên ông ra, để làm sáng cái tiền đồ của họ.
Nếu có ai biết anh ấy, thì làm ơn nhắn với anh ấy như vậy. Rồi muốn làm gì tôi thì cứ thử.
Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




