Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2017

Một số tính chất tác động đến ấn phẩm

Ngày trước, chúng ta có Đồ họa nét mảng đậm nhạt. Ngày nay, chúng ta có cả Tự do. Tự do trong suy tưởng, tự do trong cảm xúc và tự do trong thực nghiệm.
Người thợ quen tay nghề. Người thực nghiệm luôn suy nghĩ.
----------------------------------------
Nói tới in ấn, là nói tới quy trình, bắt đầu từ ý đồ tạo hình của tác giả tới ấn phẩm cuối cùng, được ký tên, đánh số để xuất bản. Quy trình như vậy, đòi hỏi những tiêu chuẩn về kỹ thuật. Với số loại hình tranh in phong phú, đa dạng, nhưng bản chất thực nghiệm theo quy trình của nghệ thuật tranh in là không đổi.
Tính chất thực nghiệm là tính chất, yêu cầu quan trọng nhất trong tất cả các thực hành nghệ thuật. Tính thực nghiệm chính là kết quả của sự tư duy, lao động, rèn luyện và là nền tảng cho sự chân thực của tác phẩm. Tính thực nghiệm tồn tại trong mỗi ấn phẩm, chính là quá trình in ấn, bởi để có được ấn phẩm, người họa sỹ đã phải thực hiện qua từng công đoạn mà không thể làm tắt, bỏ bớt.
Phác thảo của tác phẩm nếu không trải qua thực nghiệm sáng tạo, thông qua in ấn thì chỉ là một triển khai ý tưởng, một thiết kế. Tính thực nghiệm càng khẳng định hơn mối liên hệ không thể tách rời giữa kĩ thuật và hình thức – nội dung tác phẩm. Trong lịch sử ngành nghề có thể thấy, từ bản thảo, phải qua tay rất nhiều người thợ để đưa đến bản in cuối cùng: sao chép, chế bản, chuẩn bị mực, giấy và in. Ví dụ tranh dân gian truyền thống của nước ta, là kết quả từ sự khéo léo thực hành giữa các khâu: sáng tác, chế bản và in của tập hợp các nghệ nhân. Ngày nay trong quan niệm hiện đại, người nghệ sĩ khai thác tối đa quy trình theo một cách chi tiết đến từng thao tác để có thể diễn tả được tác phẩm trong chất liệu và sự tìm tòi cá nhân. Đó cũng là lúc tính thực nghiệm càng được đề cao hơn hết, cốt làm sao tìm được sự dung hòa giữa truyền thống và hiện đại.
Mà thực nghiệm chính là thực hành các giai đoạn in ấn. Qua thực nghiệm, quá trình in ấn thể hiện tính nhiều giai đoạn, tạo nên sự đặc biệt của tranh in so với hội họa, điêu khắc hay các loại hình khác. Do đó tính nhiều giai đoạn cũng là một tính chất quan trọng của quá trình in ấn, thể hiện một cách tự nhiên qua các công đoạn, trong bản thân cách thức sáng tác, lập phác thảo, dự tính thao tác chế bản, số lớp in: tách các màu, các loại nét và mảng… Với mối liên hệ đó, các giai đoạn trong quy trình tỏ rõ vai trò làm hoàn thiện tác phẩm, chứng minh kỹ thuật và nội dung – hình thức tác phẩm là những vấn đề không thể tách rời.
Có thể thấy rõ qua quy trình in tranh dân gian của nước ta, khi nó đòi hỏi giữa nghệ nhân khắc ván và nghệ sĩ vẽ mẫu sự ăn ý. Việc chuyển bản vẽ mẫu lên gỗ khắc là nguyên nhân chính, vì nó cần sự chu đáo, đảm bảo được cả mặt kĩ thuật và nghệ thuật. Kích thước của ván khắc phải có kích thước được tính toán để việc in tranh tiếp sau đó thuận tiện nhất. Từng bước như vậy, tạo ra tính nhiều giai đoạn của công việc và tính thực nghiệm trong từng khâu sáng tạo.
Tính nhiều giai đoạn giống nhau trong tất cả kĩ thuật chất liệu khác nhau: gồm nhiều bước tiến hành không thể thay thế. Sự khác nhau về chi tiết hay thứ tự phụ thuộc vào đặc tính của mỗi loại hình. Hầu hết các kĩ thuật chất liệu đều phải trải qua việc thực hiện những công việc như sau:
Bước chế bản thực hiện tạo bản khắc/trổ trên vật liệu tạo bản;
Bước lăn/bôi mực thực hiện với mực hay màu in phù hợp để hình ảnh sẵn sàng cho việc in;
Bước in thực hiện với lực ép lớn và giấy in phù hợp, chuyển hình ảnh từ bản khắc/trổ lên bề mặt giấy.
Bất kì một bước nào nếu thiếu đi, sẽ khiến quy trình in không hoàn tất, không tạo ra được ấn phẩm. Điều này cho thấy sự quan trọng của tính chất nhiều giai đoạn trong quy trình in ấn. Như một hậu quả kéo theo, tính chất thực nghiệm khi đó cũng không thể được đảm bảo, ảnh hưởng trực tiếp đến tác phẩm, không mang lại được đặc trưng loại hình.
Tính nhiều giai đoạn, phụ thuộc vào thực nghiệm, được phản ánh qua sự khác nhau ở một mức độ tương đối giữa các bản in trong một tập tranh. Điều đó có nghĩa là, với cùng một cách chế bản, thì cách dùng mực và in khác nhau tạo ra kết quả khác nhau: màu sắc khác nhau, chất màu khác nhau… Mỗi bước trong quá trình in ấn luôn có thể xảy ra sai sót, khiến phác thảo ban đầu trở nên hoàn toàn khác so với kết quả cuối cùng. Tác phẩm chịu sự biến đổi qua các bước khác nhau đó, trở nên khá phức tạp cho việc truy nguyên kỹ thuật chỉ bằng cái nhìn. Hầu hết các sách hướng dẫn thực hành đều chú trọng đến yêu cầu kỹ thuật để đảm bảo chất lượng tác phẩm. Nhưng do tính thực nghiệm thể hiện bất kì lúc nào trong quá trình sáng tác, mỗi bản in trong cùng một tập tranh trên nguyên tắc đều là bản gốc, nên tác giả có thể thay đổi trong phạm vi cho phép để diễn đạt ý tưởng.

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2017

lại là khắc gỗ

Vừa qua, một họa sỹ Thái Lan, tên gọi Pra - quen Pi - ang - chôm - pư, đã đạt được giải nhất toàn Asean về Printmaking. Cuộc thi được tổ chức tại Việt Nam. Điều đáng nói là, họa sỹ này trước đó đã đạt được nhiều giải quan trọng trong các triển lãm từ vùng Ural xa xôi, đến các xứ Đông Á như Thẩm Quyến, Đài Loan và phần thưởng từ Nữ hoàng Na - uy.

Với một seri tranh liên tục được sáng tác bằng kỹ thuật in khắc gỗ trong nhiều năm nay, mang tên Sâu thẳm trong tâm hồn, họa sỹ người Thái này đã làm được một điều rất xứng đáng để nhận được tất cả các phần thưởng và danh dự như trên. Hơn hết, có lẽ cần có một vị trí đặc biệt cho họa sỹ này trong lịch sử Printmaking của toàn nhân loại bởi điều mà họa sỹ này làm được là chưa từng có, và vô cùng ý nghĩa trong sự phát triển của nghệ thuật biểu hình trong ngôn ngữ in ấn.



Tranh in khắc gỗ Việt Nam đã đến thời cáo chung.

Đầu tiên, nói về kỹ thuật, họa sỹ làm cho tất cả những người xem không thể tin nổi rằng tranh đó được in bằng kỹ thuật khắc gỗ. Mà thật sự đó không phải là phương pháp khắc đục nhàm chán như ở ta vẫn làm xưa nay. Cách là của người này rất độc đáo: vừa khắc vừa cạo. Nói thêm về kỹ thuật, ở ta trước giờ rất lộn xộn. Gắn mãi với những loại hình thủ công mỹ nghệ, lý luận của ta chưa bao giờ phân biệt được các thủ pháp, phương pháp thao tác trong việc in khắc gỗ mỹ thuật (tất cả những kiến thức trước giờ đa phần là thủ công mỹ nghệ và lệ thuộc Trung Quốc). Về tạo dựng hình ảnh, sơ sơ thì theo tiếng Anh có wood engraving, woodblock - woodcut. In cho thành tranh màu, thuật ngữ tiếng Anh phân biệt cơ bản như sau: multi woodblock/ multiblock woodcut/ multi color woodcut, reduction woodcut. Để trình bày tường tận tất cả những cách dùng thuật ngữ gắn với các cách làm cụ thể, e rằng phải tốn ít nhất cả một chương trong sách, hoặc là cả nội dung của một cuốn sách thì mới làm nổi. Nói như vậy để thấy, chúng ta ôm ấp mãi phường thủ công, để rồi ngay cả chính chúng ta cũng không cách tân cái phường thủ công ấy lên được. Cho đến giờ, các nhà lý luận vẫn còn vồn vã với mộc vị và dao vị, thì đến bao giờ chúng ta mới học được cách vừa khắc vừa cạo như người Thái, chứ chưa nói tới phát triển một kỹ thuật riêng của chúng ta.

Thứ hai, về ngôn ngữ, họa sĩ trên đã tạo ra những tác phẩm với ngôn ngữ độc đáo, tinh tế mà cô đọng trong miêu tả không gian, vừa đồ họa đó mà vừa đậm tính biểu hình tả thực. Không hề có nét, có mảng, sao gọi là đồ họa? Đó là vì sự cô đọng về màu, về đậm nhạt và quan trọng hơn hết là cô đọng về sự diễn đạt không gian. Đi sâu vào diễn đạt không gian, mô tả những sự vật trong không gian chung, tạo ra vẻ hòa hợp của chúng, khắc họa nên hình ảnh chân thực về không gian đó, là một trong những mục đích cơ bản của nghệ thuật biểu hình. Đa phần, tranh in khắc gỗ cho ra một kiểu cô đọng không gian thái quá, đập bẹt không gian và đòi hỏi một sự cảm nhận mang cả lý trí trong đó. Người Thái ấy không buộc ta phải suy nghĩ. Ánh sáng trong tranh ấy vẫn cô đọng, cái gì thừa thãi bỏ đi, nhưng cảm nhận thị giác về không gian là trực tiếp, đầy cảm quan trừu tượng.

Những nỗ lực mô tả không gian đầu tiên trong tranh in khắc gỗ màu, có lẽ là lối chiaroscuro woodblock của nghệ thuật Phục hưng. Những ván gỗ với các phần mảng, nét mang sắc độ từ đậm đến nhạt riêng biệt của một hình ảnh được in lần lược để mô tả khối, bề mặt và chi tiết của sự vật. Những tranh in khắc gỗ ở thời Phục hưng mang tính nghiên cứu cao về biểu diễn cô đọng một không gian cũng như cấu trúc sự vật.


Một trong những nỗ lực tiếp theo có lẽ là phương pháp mà ta vẫn gọi là in khắc gỗ phá bản, mà đặc trưng kỹ thuật vẫn thường thấy trong việc thao tác của các họa sỹ là in rất nhiều màu và khắc tỉ mỉ rất cực. Tiếp theo theo thiển ý của người viết chính là kỹ thuật in khắc phá bản, đi với ngôn ngữ của nó, không phải từ trên trời rơi xuống, không phải là một sản phẩm dân gian, mà là sản phẩm của sự phát triển ngôn ngữ biểu hình trong tranh in khắc gỗ. Bởi vậy, biểu hình như thế nào, xây dựng không gian trong tranh chân thực đến độ nào là một trong những mục đích cơ bản của nghệ thuật biểu hình chân chính. Mà in khắc gỗ phá bản, cho phép người làm cởi bỏ nét viền, mảng phẳng, phá bỏ tư tưởng đã ăn dầy ăn sâu về tính đồ họa chỉ có nét với mảng cùng một không gian bẹt bẹt, chính là một lợi thế khá mạnh.



Vượt lên hơn thế nữa, một tranh gọi là in khắc gỗ nhưng không hề có nét khắc, không hề có những lớp màu phân biệt, mà ở đó chỉ có những chuyển biến màu, chuyển biến ánh sáng, là một sự phát triển sau cùng cho đến ngày hôm nay. Tương lai kia, ngôn ngữ ấy có còn đạt được những thành quả mới hay dừng chân nghỉ mệt, là điều ai cũng phải chờ đợi.

Trở lại với tranh của họa sỹ trên, chủ đề về nội thất là một chủ đề cũ, thậm chí là rất cũ. Theo dõi toàn bộ seri của họa sỹ này, có thể thấy anh không cố gắng dày vò nội dung trong tranh, không siêu thực, không fantasy, không nhiều tầng lớp hình ảnh... Điều này có thể làm cho một số người ưa thích những nội dung phức tạp bỡ ngỡ, không hiểu tại sao như vậy mà cũng đoạt giải. Trong seri này, một số bức có motif bố cục cơ bản, một số lại không thật sự độc đáo vì nhang nháng một số chi tiết ở tranh của các bậc thầy. Nhưng cái không gian ấy trong tranh in khắc gỗ, quả thực đã làm tất cả mọi khán giả khâm phục. 

Đi vào miêu tả, chứ không phải đơn giản không gian, là một con đường đúng đắn và chông gai, nhất là ở tranh in khắc gỗ. Con đường ấy chông gai như chính nghệ thuật biểu hình cao quý. Ở ta, có một lực cản gì đó khá mơ hồ, khiến một số họa sỹ làm tranh in khắc gỗ đã bước một chân vào con đường ấy lại bước chân ra(!) Hoặc có lẽ là lỡ bước mà vào thôi, không được phép đâu nhé, phải dân tộc và hiện đại!









Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Nội dung - hình thức - kỹ thuật trong sáng tác tranh in

Nội dung và hình thức của tác phẩm là hai khía cạnh không thể tách rời nhau trong một tác phẩm. Mối quan hệ của chúng mang tính biện chứng, bổ sung và hoàn chỉnh cho nhau. Đối với một tác phẩm in ấn, cách nhìn nhận, diễn đạt đối tượng, không gian bao quanh đối tượng đó mang tính rõ ràng, cô đọng là khác biệt so cách nhìn của hội họa hay điêu khắc...  Và chắc hẳn ngoài nội dung về đối tượng, đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, còn có những tình cảm, cảm xúc của tác giả phản ánh qua biểu cảm riêng trong tác phẩm, thứ biểu cảm được xây dựng bởi thủ pháp riêng về hình thức của loại hình. Đi liền với nội dung là một hình thức liên quan phù hợp – hình thức được xây dựng bởi phương pháp in ấn: Trong một thời gian dài phong cách hiện thực được đề cao và mọi họa sỹ chấp nhận nó một cách tự nhiên […] Từ hiện thực đến ký họa, rồi đến tranh in khắc gỗ đã là quá trình chắt lọc rồi và đến đó không ai còn đòi hỏi bức tranh có tương tự với tự nhiên hay không. Tinh chất khái quát tự nhiên và cách nhìn nhận hiện thực nhiều hơn là sao chép vốn có ở tranh khắc gỗ (thủ pháp riêng của loại hình) cho thấy rõ điều này. (Hoàng Minh Phúc, sđd, trang 242 – 243)
Trở lại với các biểu hiện thường thấy của tranh in nghệ thuật, gắn liền với phong cách hiện thực, ngoài vấn đề nội dung phản ánh các mặt của đời sống thực tế, hình thức mà tác phẩm đạt tới thường gắn với các tiêu chí đặc trưng, điển hình và mang các giá trị chân – thiện – mỹ. Đối xử trước một nền nghệ thuật dân gian cổ truyền mang nặng tính Đồ họa, tư duy của người làm tranh in nước ta tỏ rõ sự ưu ái đối với việc khái quát hóa đối tượng: qua nét và qua màu, xây dựng hình ảnh mang tính điển hình, đặc trưng cao bằng hệ thống tạo hình với nét đen, mang nặng tính Đồ họa với sự bổ sung màu để tạo hòa sắc. Trong hoàn cảnh hiện tại, nhiều cách tân ở lối in ấn, ví dụ như kỹ thuật in khắc gỗ phá bản cũng đã và đang được thực hành tại khoa Đồ họa, không câu nệ đến việc viền hình, đi nét đen, nhưng lại tỏ ra hết sức hữu hiệu khi diễn đạt không gian hiện thực, nhấn mạnh được trước – sau, chính – phụ làm tăng hiệu quả diễn đạt nội dung điển hình, đặc trưng trong tranh.
Sự giống nhau trong những cách làm đó xảy ra ở quy trình in ấn. Phong cách hiện thực trong đặc trưng của nó hướng tới nội dung cô đọng, điển hình và mang tính biểu hình cao, đã khiến những lớp màu, mảng và nét nằm trong một quan hệ gắn bó, bổ sung cho nhau trong mục đích tiên quyết là xây dựng một không gian hiện thực duy nhất. Chỉ loại trừ phương pháp in offset và in lụa mang nặng yếu tố công nghiệp, hầu như tất cả các loại hình tranh in đều vận hành một quy trình như nhau đối với phương pháp sáng tác Hiện thực. Một yếu tố quan trọng khác không thể bỏ qua, là biểu cảm của loại hình, chất cảm từ vật liệu mà phong cách hiện thực đem lại. Gắn với việc củng cố ý đồ thể hiện không gian hiện thực, tác phẩm hầu như chỉ có một biểu cảm đơn nhất: sự thô sơ ấm áp của loại hình in khắc gỗ, mềm mại tinh vi trong loại hình in kim loại hay cảm giác đặc trưng mà tranh in đá thường có… Biểu cảm đơn nhất đó, phải chăng là yếu tố quan trọng để thúc đẩy cho sự diễn đạt một không gian đồng nhất, ngoài những yếu tố đậm – nhạt, trước – sau?
Vậy còn những phương pháp sáng tác không phải hiện thực? Bởi nghệ thuật là một lĩnh vực gắn liền với quá trình tư tưởng - tư duy của con người, mà trong đó phản ánh cả thái độ, cảm xúc và tình cảm riêng tư, nên không thể có một trạng thái đơn nhất về phương pháp sáng tác, phong cách hay ngôn ngữ. Tranh in cũng vậy. Rõ ràng, kỹ thuật gắn bó với tạo hình của tác phẩm: nội dung cần có hình thức, hình thức là con đẻ của kỹ thuật. Nhưng sự gắn bó đó không đơn thuần chỉ trong một mối quan hệ mà hình thức củng cố cho nội dung. Trong những góc nhìn đa chiều, như thủ pháp đồng hiện, nghệ thuật Lập thể, Tượng trưng hay Siêu thực... hình thức của tranh in không hoạt động như sơn, như màu hay cọ. Mỗi một lớp màu có khả năng khắc họa một hình ảnh hoàn chỉnh, là kiến thức cơ bản như đã thấy trong thể loại in ấn đơn sắc. Sẽ là thực sự phức tạp, nếu mỗi lớp màu trong một tác phẩm in ấn màu không chỉ thể hiện một không gian, một đối tượng chứ không nói tới việc phải mất nhiều lượt in mới tạo ra một không gian như lối diễn tả hiện thực.
Nội dung và hình thức trong tạo hình của tác phẩm có mối quan hệ mật thiết với kỹ thuật. Một mặt, phương thức thể hiện của tác phẩm hiển nhiên phải phù hợp với thế mạnh của từng loại hình. Mặt khác, quá trình sáng tác cũng là quá trình tác giả sử dụng các vật liệu, chuyển tư duy, tình cảm, những dự định trong phác thảo thành chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn. Do đó, đây là quá trình cần đến sự hiểu biết và kinh nghiệm về sự tương tác của các vật liệu đó. Trong tất cả các loại hình nghệ thuật nói chung và tranh in nghệ thuật nói riêng, sự thành thạo về kỹ thuật hay chính là hiểu được thế mạnh của mỗi loại hình có ảnh hưởng quyết định to lớn đối với sự thành công của tác phẩm.

 Thành thục trong kỹ thuật chất liệu là thành thục về cái mà loại hình đó có thể trình bày tốt nhất, cảm xúc mà loại hình đó có thể đẩy ra sự thể hiện toàn vẹn nhất. Thành thục trong sử dụng kỹ thuật chất liệu do đó không phải là một sự áng chừng về những yếu tố thị giác như đường nét, điểm chấm, mảng miếng... để gán lên đối tượng một cách thể hiện nặng tính công thức. Chỉ biết tới các yếu tố về thị giác mà quên đi biểu cảm riêng của từng loại hình - cái thực sự bày ra trên giấy là những lớp mực ánh màu sắc khác nhau - chỉ có một nghệ thuật Đồ họa chung chung mà không có một nghệ thuật in ấn cụ thể sinh động. 
Trong lúc những họa sỹ đi trước lo lắng về sự toàn vẹn của chất liệu, bảo vệ truyền thống trong việc sử dụng kỹ thuật, vận dụng tính Đồ họa vào tạo hình, trong lúc những công trình lý thuyết có tầm vóc to hơn, được bảo trợ bởi trường quy vẫn vồn vã với mộc vị, dao vị trong tranh in khắc gỗ, thì người Thái đã có những cách tân trong kỹ thuật, phương pháp để đẩy sâu nội dung của sáng tác, dù không cần thoát ra khỏi phương pháp sáng tác hiện thực. Cũng là tranh in khắc gỗ, trong lúc một số họa sỹ đi trước xem dao khắc như cọ vẽ, nét khắc như vệt sơn, hoặc khắc trổ như phường thợ thì người Thái đã đẩy biểu cảm của tác phẩm lên tới mức đạt được sự uyển chuyển của màu sắc như hội họa mà vẫn cô đọng, thể hiện được nền tảng Đồ họa trong đó. Tranh in khắc gỗ Việt Nam, sắp đến hồi cáo chung, cũng vì người ta bỏ quên bản chất in ấn đáng phải có. Biểu cảm thật sự quan trọng tới đâu? Nó chính là một phần hai cơ sở lý luận cho việc hợp nhất các kỹ thuật chất liệu tranh in làm một. Mối quan hệ giữa nội dung - hình thức - kỹ thuật hiển hiện ở mức cao nhất của nó trong chiều sâu biểu hình - trừu tượng, tư duy - cảm xúc chứ không còn là lối thực hành quen tay.
                               ------------------------------------------------------
Các bác, các cô chú anh chị và các bạn,
Tôi là tôi, ở đây duy nhất là tôi. Tôi có tên, danh xưng và bút hiệu. Trước khi muốn nói gì làm gì, nếu được thì cho tôi nhờ cậy một chuyện, nhắn với anh Khôi họ Ngô rằng anh không biết gì về sự khổ sở của ông ngoại anh, của gia đình anh, những người chung quanh gia đình anh thì đừng lên báo khoe khoang, kể lể. Nay anh đã ở cùng với con những kẻ làm khổ ông ngoại anh, gia đình anh, những người thân thiết quanh đây, anh chớ hạnh phúc. Cũng như nhiều người khác, họ gần như đấu tố, giam lỏng ông Nam Sơn, rồi khi cần họ lại lôi tên ông ra, để làm sáng cái tiền đồ của họ. 
Nếu có ai biết anh ấy, thì làm ơn nhắn với anh ấy như vậy. Rồi muốn làm gì tôi thì cứ thử.

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016

Người ta thường bảo 'hình thức và nội dung', 'hình thức đi đôi với nội dung', 'đẹp cả hình thức lẫn nội dung' và thậm chí là 'tốt gỗ hơn tốt nước sơn'. Nhưng có phải tất cả chỉ là cái vỏ ngoài của một nội hàm 'đề cao nội dung, chạy theo hình thức'?

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2016

Aquatint

Aquatint là kĩ thuật được thực hiện trên plate kim loại với bụi nhựa thông nung chảy, tạo ra các độ khác nhau, chuyển tải phong phú trong cùng một bản khắc.

Aquatint cho hiệu ứng như dùng màu nước. Về mặt cơ chế, kỹ thuật này tạo ra các vùng chứa mực với độ liên tục thay đổi, độ nông sâu của vùng chứa mực đó cũng thay đổi trên plate kim loại. Kết quả đó phụ thuộc vào việc rắc phủ bụi keo, nhiệt độ và thời gian nung chảy, bề mặt plate kim loại... Cách thức diễn tả độ đậm nhạt của kỹ thuật aquatint là hoàn toàn khác so với mezzotint, ăn mòn trực tiếp, khắc nét khô hay dùng acid...

Bởi tính dày mỏng của lớp mực in, độ đục trong của mực mà aquatint tạo ra hiệu ứng đẹp, thích hợp cho nhiều phương pháp thể hiện. Mực in do đó, không thể là loại hoàn toàn trong hay hoàn toàn đục.

Nền tảng của kỹ thuật aquatint hầu như không thấy ở bất kì phương pháp in ấn cần máy móc nào khác, trừ cách vẽ monotype. Điều đó cho phép sự hợp nhất phù hợp mà hai kỹ thuật có thể phối ghép cùng nhau, tùy vào trường hợp.

Thứ Hai, 13 tháng 6, 2016

Fractint

Fractint của Cedric Green, trên nền tảng tạo hình fractal, là kỹ thuật lợi dụng tính chất duy nhất của phương pháp monotype với chất vẽ và chất tạo màng chắn trên plate kim loại.

Fractint có thể dùng đơn lập hoặc kết hợp với mọi kỹ thuật còn lại trên bề mặt plate kim loại. Sugar lift là cơ sở quan trọng trong việc tạo hình fractal dương bản. Fractal âm bản được tạo bởi màng chắn, làm thành các hình nổi trên mặt kim loại và trắng trong bản in.

Fractint bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố vật lý trong suốt quá trình thực hiện như tính chất của mực vẽ, chất tạo màng, bề mặt plate kim loại, độ cứng và bề mặt của plate áp lực, chiều hướng và tốc tộ trong thao tác tạo hình...

Riêng với fractint âm bản bằng chất tạo màng acrylic, quá trình thực hiện luôn luôn phải đối mặt với việc thao tác trên màng chắn sai. Màng chắn sai mang tính ngẫu nhiên cao, khó kiểm soát và gắn liền với fractint âm bản bằng acrylic. Foul biting là hoạt động của màng chắn, fractint âm bản cũng là màng chắn. Vì vậy, khó tạo được hình ảnh rõ ràng nếu không thực hiện đúng các yêu cầu về mặt vật lý.

Về tạo hình, fractal âm bản là tạo hình trắng. Các độ của fractal âm bản rất ít, không rõ nét và chất ngẫu nhiên của nó là khá cao do ảnh hưởng của màng chắn sai. Khác hoàn toàn so với fractal dương bản.

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2016

Bọn họ dạy tôi điều gì ở trường học? Bọn họ mong tôi làm gì ở đời này?


Husserl vĩ đại, Marcel vĩ đại, Bourdieu vĩ đại và nhiều người khác nữa, đã vạch ra cho tôi thấy sự thật là tôi chẳng có gì hết. Những không gian trống rỗng.