Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

sống như vậy, chết mang đi

Trưa hừng hực. Trong phòng có hai người, một già và một trẻ. Già là bà, còn trẻ là cháu.

Bà già năm nay đã già lắm rồi, chắc cũng sắp trăm tuổi. Tóc của bà chưa bạc trắng hết. Cái gốc gần da đầu vẫn đen đen, nhưng mài tóc thì mỏng lắm rồi. Bà búi lên chỉ được bằng một nắm tay con nít. Bà đang nằm lim dim mắt. Không thể biết bà ngủ chưa vì thỉnh thoảng những ngón tay lại khẽ động đậy. Bà nằm co ro mà yên ắng lắm.

Thằng cháu sắp đôi mươi, trẻ và khỏe. Thường là nó đi học rồi đi làm cả ngày, đâu được mấy buổi trưa thảnh thơi. Lúc này nó đang ngồi trên chiếc ghế có tựa. Lưng duỗi ra theo tư thế nghỉ ngơi, tay cầm một cuốn sách mỏng. Mắt đọc chậm chạp qua các dòng trong ánh sáng mờ mờ hắt vào từ cửa sổ. Trời chả có cơn gió nào, oi bức vì mùa hè đang ập đến.

Bỗng thằng cháu gấp cuốn sách lại. Gáy sách chạm vào ghế kêu cạnh một tiếng. Thứ âm thanh đó nhỏ thôi nhưng cùng lúc đó bà mở mắt nhìn. Có lẽ đó chỉ là sự tình cờ. Bà già nhìn một lúc, hỏi: "Mày không ngủ đi à?" Thằng cháu chưa kịp đáp thì bà lại ôn tồn: "Không ngủ thì lại đây nằm, nhắm mắt lại. Người ta gọi đấy là 'dưỡng mục' đấy con ạ." Rồi bà già nhắm đôi mắt trở lại.

Thằng cháu cất tiếng hỏi nho nhỏ. "Bà biết truyện 'Hồn Trương Ba, da hàng thịt' chứ ạ?"

"Ừ, truyện cổ tích ấy mà. Truyện cổ tích..."

"Có cái ông nhà văn dựng nó thành kịch đấy bà ạ. Cũng lâu rồi nhỉ. Bà đã xem cái kịch ấy chưa?"

"Kịch à? Ngày xưa tao có bao giờ được thảnh thơi đâu mà phim với chả kịch. Chẳng có tiền ra xi nê nữa kìa." Thằng cháu nhìn bà chăm chú từ lúc nãy. Mặt bà có vẻ là đang buồn ngủ lắm, đang chìm trong giấc ngủ, nhưng giọng nói thì linh hoạt, tỉnh táo. Nó không định hỏi nữa, quay đi.

"À mà hình như tao có nghe trên đài rồi thì phải. Cũng lâu lắm rồi. Chả còn nhớ rõ. Thế đại để nó ra sao, mày nói tao nghe xem nào." Bà già vẫn nói bằng thứ âm thanh dìu dịu, ấm áp. Thằng cháu quay lại nhìn. Nó thấy bà đang phe phẩy chiếc quạt giấy tím rịm. Đó là thứ quạt người ta thường bán ngoài chợ, nhà ga, bến xe. Tự dưng nó ngạc nhiên hết sức. Không hiểu bà lấy đâu ra cái quạt đó nhỉ, vừa rồi nó không thấy bà cầm.

Thế là nó kể sơ sơ cái vở kịch mà ông nhà văn dựng lên. Cảnh đầu là chốn thiên đình mấy gió có hai ông Nam Tàu, Bắc Đẩu, sau là chuyện ông Đế Thích tiên cờ, lần lượt, lần lượt đến hết. Nó vừa kể vừa hình dung ra nơi sân khấu, hình dung tới các ông tiên bà thánh, hình dung ra cái đau khổ của ông Trương Ba, cái mắt đảo điên của anh hàng thịt... Còn bà già thì đôi mắt vẫn nhắm nghiền, bàn tay vẫn phe phẩy.

"Thế là cuối cùng ông Trương Ba chết thật. Anh hàng thịt chạy vội về nhà." Thằng cháu kể xong lại hỏi: "Bà thấy cái kịch ấy có hay không? "

Bà im lặng một lúc, bảo: "Đúng là cái thuở ấy khổ thật, chỉ biết làm rồi ăn. Giặc giã đến là khổ. Cái ông nhà văn ấy tên gì mày nhỉ? Vẽ thêm cái hậu cảnh thế cũng là tài lắm rồi."

"Lưu Quang Vũ bà ạ. Ông ấy tài lắm, tiếc là chết vì tai nạn ô tô. Vợ con chết chung cả."

"Phạm thánh mà, nên thánh quở cho. Bắt phải chết. Mày nhớ lấy, đừng có mà phạm thượng, khinh miệt thánh thần. Các thần ở khắp mọi nơi. Trên giời có các vua cha, có Mẫu, đều thương người, lại thần thông lắm." Bà già xuýt xoa. "Nhưng mà chửa biết là ông ấy chết hay là về lại cõi giời đâu con ạ. Thường người tài hoa như thế chả phải là người trần cục mịch, tầm thường." Bấy giờ vẻ mặt bà đã hết buồn ngủ. Đôi mắt nheo nheo nhìn đứa cháu.

"Thế người ra sao thì là tầm thường, cục mịch hả bà?" Thằng cháu cảm giác rộn rạo trong lòng, băn khoăn tràn lên vẻ mặt.

Bà già thấy vậy cười hà hà, nói: "Thì như tao với mày đây này. Ngày xưa tao chỉ biết lo kiếm tiền nuôi bố với các chú mày. Đầu lúc nào cũng phải tính toán, vặn hết cách hết đường mà sống. Có bao giờ thấy vui vẻ thanh thản đâu."

"Ông nhà văn cũng nào có thanh thản đâu bà."

"Người thanh thản thì thế gian để truyện, để tích lại con à. Còn ông ấy là người giời đấy, xuống đây dạy bảo cho con người cái đạo lí, cách sống."

Thằng cháu ngớ ra. Có phải vì bà già quá, đâm ra lẩm cẩm nên mới nói như vậy. Chứ nó đọc thấy cái ông nhà văn ấy sống khổ ơi là khổ, cơm áo gạo tiền chả sung sướng. Mà cái tinh thần của các ông nhà văn nào có yên bình gì. Nó bỏ dở câu chuyện của bà, nói sang hướng khác: "Cháu không biết nữa. Cháu chỉ thấy ngoài ông ấy ra chẳng ông nào đi viết khúc sau của chuyện cổ tích cả. Mà thật ông ấy tài, lựa đúng cái truyện viết được. Như Tấm Cám xong chuyện là hạnh phúc, có gì nữa mà viết."

"Ừ, thì tao bảo rồi, chỉ có người giời mới dám viết về giời thôi. Ai cũng viết thì hỏng bét cái đạo của giời đi à. Ngày xưa cậu* tao để tao theo đạo Thiên chúa đấy, nhưng rồi đạo giời vẫn là đạo lí ở cái nước này con à. Lúc trước người ta chống mê tín lắm đấy, tao cũng biết thế nào là mê tín đấy nhé. Nhưng mà cái đạo lí của tổ tiên ta ngày xưa thì sao là mê tín được..." Bà già nói tới đó thì ngập ngừng, như nghĩ điều gì đó. Rồi bà phất phất tay ra hiệu: "Mà thôi nói nữa mày cũng không hiểu. Ấy sắp chiều rồi kìa, mày có đi đâu thì đi kẻo muộn."

"Ô, vâng ạ." Thằng cháu như đang mê man bỗng tỉnh ra, vội thay quần áo, xách xe ra ngoài. Tiếng xe nổ máy, thằng cháu đã đi, chỉ còn một mình bà già nằm trong phòng. Bỗng bà lẩm bẩm: "Chúng nó sống khác mình rồi. Chết mang đi, chết mang đi..."

Trời vẫn đang nóng lắm. Nắng có phần gay gắt hơn trưa.

* cậu: một cách gọi cha thời đầu thế kỉ trước

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

Truyện Quận công Lang và vua Tương Dực

Nghĩa Huân vương Lang khi vua Uy Mục lên ngôi đang giữ tước Nghĩa Quận công, là một đại thần trụ cột trong triều bấy giờ. Ông được người đời khen là "thông thao lược, giỏi binh pháp, khéo xem xét thiên thời, sức khoẻ có thể bắt được hổ". Ấy vậy mà không bao lâu sau, ông cùng các tông thất và đại thần khác bị Uy Mục đuổi về quê Thanh Hóa. Uy Mục sát hại bà tổ mẫu tức Trường Lạc Hoàng hậu của vua Thánh Tông, chị của Quận công Lang, khiến ông càng thêm đau xót.

Lê Năng Cẩn là tông thất nhà Lê, thấy quyền hành trong triều bỗng chốc rơi vào tay ngoại thích thì không hài lòng, có viết một bài thơ gửi cho Quận công khuyên "giết hết bè đảng bạo nghịch". Ông bèn nghe theo mà tụ họp nhân dân ba phủ của xứ Thanh hội thành quân, chiếm Tây Đô rồi đóng ở cửa biển Thần Phù, chờ đợi thời cơ tiến về kinh đô.

Đấy cũng là lúc Giản Tu công Lê Oanh dùng châu báu hối lộ cho quản ngục mà trốn thoát khỏi sự bức bách của Uy Mục. Giản Tu công cùng bề tôi lưu lạc không lâu cũng vào tới Tây Đô. Quận Công gặp được người trong vương thất thì mừng rỡ, thấy Lê Oanh bấy giờ có đức có tài bèn lập làm minh chủ. Thân thế quân đội càng thêm hùng dũng.

Tháng 11 năm 1509, khi lực lượng đã đủ, thân thế đã lớn, Giản Tu công Oanh cùng Văn Lang giả danh Cẩm Giang vương Lê Sùng lập cờ chiêu an, tiến về Đông Đô. Uy Mục hay tin liền cho bắt Lê Sùng cùng mẫu thân của Oanh mà giết. Nhưng mệnh của Uy Mục đã hết. Cuối năm đó quân của Lê Oanh tiến sát kinh thành, Uy Mục trốn ra Yên Lãng bị dân bắt nộp cho Quận công Lang. Quận công đem ra quán Bắc Sứ giết chết. Lê Oanh còn sai dùng súng bắn tan xác Uy Mục để báo thù cho anh và mẹ.

Giết được "vua quỷ", Giản Tu công Lê Oanh lên ngôi lấy niên hiệu Hồng Thuận. Đó chính là Tương Dực Đế. Quận công Lang, các tông thất và đại thần cũng được mời trở lại triều mà giúp việc cho vua. Những tưởng vua anh minh, nào ngờ sau khi có được giang sơn, Tương Dực không màng chính sự, chỉ lo chơi bời xa xỉ. Vua sai Vũ Như Tô xây điện trăm nóc, xây Cửu Trùng Đài làm kiệt quệ ngân khố, hao tổn sức người. Vua còn hoang dâm vô độ, khiến bá quan văn võ đại thần đều nản lòng, buồn bã. Đông Các Đại học sĩ Lương Đắc Bằng là quan thần trụ cột nhiều đời dâng lên "Trị bình thập tứ sách" gồm mười bốn điều, Tương Dực khen phải nhưng không thi hành. Đắc Bằng cáo quan về ở ẩn.

Nhân dân khắp nơi bắt đầu nổi dậy, Quận công Lang lại vì vua mà đi dẹp loạn. Năm 1511 dẹp được Trần Tuân ở Sơn Tây. Quận công Lang là bề tôi trung thành, ra sức khuyên cản vua. Vua trọng và biết ơn Quận công, không dám trách tội nhưng cũng không nghe khuyên. Một lần vua nói với Quận Công: "Trẫm không tốt ư? Triều đình không tốt ư? Không tốt thì làm sao từ Thái Tổ Hoàng đế đến nay non sông được như thế này. Quận công chớ lo, mai kia Cửu Trùng Đài xây xong rồi, trẫm sẽ cùng Quận công và bá quan lên đài thưởng tửu bình thi."

Từ đấy Quận công Lang biết mình không làm được gì nữa. Bốn năm sau khi Tương Dực lên ngôi, Quận công qua đời. Vua thương nhớ truy phong làm Nghĩa Huân vương. Tương Dực còn ở ngôi được thêm ba năm nữa. Giặc Trần Cảo nổi lên đã ép sát kinh đô thế mà vua không để ý. Đến năm 1516, có vị Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản bất mãn, bàn với các quan muốn lập vua khác, sáng mùng 7 tháng 4 lẳng lặng mang binh vào thành giết vua. Tương Dực chết mà vẫn chưa được thấy Cửu Trùng Đài.

11 tháng 2 Nhâm Thìn.

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

2012

Tôi không biết ngày tận thế sẽ đến vào lúc nào, thôi cứ chờ cho tới tận thế.