Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Gradient đô thị - nông thôn


Giáo sư Richard T. T. Forman đã sử dụng sơ đồ về vùng đô thị để vạch ra phạm vi của vùng đô thị với nhiều khái niệm liên quan theo phương pháp cảnh quan trong khi cũng đặt sự quan tâm lên kích thước quần thể dân cư một cách đầy cuốn hút. Mời quý bạn đọc xem thêm trong sách “Urban Regions, Ecology and Planning beyond the City”.

Trên đây là một triển khai cho quy phạm về giới hạn không gian của hệ sinh thái đô thị. Tất yếu cũng có nhiều cách xem xét khác, kĩ lưỡng hay đơn sơ hơn. Trong phạm vi tìm hiểu hệ thống lí thuyết mới mẻ của Sinh thái học đô thị, chúng tôi cảm thấy biểu đạt của giáo sư Forman là hoàn toàn phù hợp. Đó không chỉ là giới hạn không gian mà còn là sự biến đổi trong hình thái của đô thị theo chiều ngang. Vấn đề sẽ được trích lược sâu hơn về sau.

Chương trình Gradient Sinh thái Đô thị - Nông thôn (Urban-Rural Gradient Ecology) do nhóm các nhà nghiên cứu Mark McDonnell, Steward Pickett, Richard Pouyat và Margaret Carreiro tiến hành ở vùng siêu đô thị New York, đã đưa ra khung lý thuyết nêu lên sự thay đổi theo gradient từ vùng đô thị lõi đến nông thôn và hệ sinh thái tự nhiên. Nó gồm 2 thành phần thể hiện qua các thước đo về: (1) điều kiện lí – hóa; (2) tập hợp sinh vật; (3) quá trình của hệ sinh thái; (4) yếu tố nhân văn. Trong đó 3 thước đo đầu tiên thuộc thành phần như trong khái niệm về gradient sinh thái học và thành phần sau bao gồm con người như thành phần của hệ sinh thái. Theo đó là kết luận về quá trình đô thị hóa như một quá trình tạo ra một gradient môi trường phức tạp.

Một sơ đồ phân chia theo thứ tự các vùng lãnh thổ theo gradient đô thị - nông thôn được trình bày ở hình dưới. Sơ đồ gồm 2 phần là hình chiếu theo chiều đứng và ngang theo lát cắt từ trung tâm đô thị đến vùng tự nhiên.


Lưu ý của các tác giả đưa ra cho khung lý thuyết này là hầu như đầy không phải là trật tự tất yếu của mọi trường hợp. Mỗi khu đô thị khác nhau có sự thể hiện gradient đô thị - nông thôn khác nhau. Nó không tuyến tính và không đều trong các đô thị trên khắp thế giới. Điều đó phụ thuộc và cách mà mỗi quốc gia tiến hành quá trình đô thị hóa.
           
            Các thành phần của gradient đô thị - nông thôn đã được giới thiệu đi sâu hơn phân tích sẽ gồm nhiều yếu tố. Sơ đầu dưới cho thấy những yếu tố đó. Tất nhiên, không thể xem xét chúng theo quan điểm cấu trúc vì chúng là các thành tố ảnh hưởng qua lại. Thành phần con người với 3 thành tố chính ảnh hưởng nhiều đến các quá trình theo gradient trong hệ sinh thái đô thị.

một phong cách hay cách nhìn thế giới?

Tôi đã luôn tự hỏi, liệu bản thân tôi có cần đến blog này lắm không? Có cần lập ngôn? Không một bằng cấp, không một học vị nào dành cho tôi cả. Thậm chí thứ tôi đang học với tất cả niềm yêu thích, bản thân tôi vượt qua mọi chông gai, nếu thành tài, thì chưa chắc gì đã được xem trọng. Vậy nên nói năng nhiều có cần thiết? Nhất là khi sự sáng tạo của bản thân quá kém, không thể gửi gắm rõ ràng qua bất kì công việc nghiêm túc nào. Người đời sẽ nhìn vào và phê phán là tôi kém cỏi về năng lực và lòng vòng về luận điệu...

Tôi bị ám ảnh, một cách kinh sợ và ghê tởm, đối với một hình ảnh: giáo sư già giật micro của một người phát biểu trẻ tuổi để... tiết kiệm thời gian cho thứ gọi là Hội đồng khoa học. Với "phong cách khoa học miền Nam" đã hằn sâu vào đầu óc, vào chuẩn mực đời sống của tôi, thì từ đó đến giờ, tôi vẫn không bao giờ chấp nhận được điều ấy. Tôi cho rằng, ông ta chỉ dám giật micro khi thật sự ông ta cho rằng bản thân đã hiểu tường tận mọi tầng lớp của sự nghiên cứu, quá trình nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu bằng một thái độ trịch thượng và truyền giảng tôn giáo!


Chính hình ảnh đầy hãi hùng đó, với những nguồn gốc tiểu sử khác, đã dẫn tôi tới một cảm quan bi lụy về tương lai của bản thân tôi nếu dấn thân vào khoa học và về tương lai của khoa học nước nhà. Và cũng từ đó, tôi không ngại ngần gì vạch ra thứ chuẩn mực mà tôi gọi là "phong cách khoa học miền Nam", nhờ soi chiếu với những người thầy cũ đầy đức độ của tôi ngày trước, dạy khoa học "vỡ lòng" cho tôi, với một thái độ tôn trọng suy nghĩ của học sinh, dù sai hay đúng, phản biện bình đẳng và thẳng thắn với học sinh.


"Phong cách khoa học miền Nam" dường như rõ ràng không liên quan gì tới khoa học. Trớ trêu quá chăng?


Tôi không phân biệt Bắc và Nam để miệt thị điều gì và ai cả. Tôi phân biệt vì một kiểu "phong cách" đối xử với khoa học là một đầu mối vũ trụ quan trong khoa học và là thái độ của người làm khoa học quyết định thành tựu trong quá trình đi tìm chân lý.


Chỉ có một thái độ đúng đắn, thì Darwin mới viết ra thuyết tiến hóa. Chỉ có ở "phong cách" Mendel thì học thuyết di truyền mới ra đời.


Thêm nữa Jean Paul Sartre và Trần Đức Thảo tranh luận với nhau cũng không nhảy vào họng nhau bất lịch sự như vậy đâu!


Chỉ một lần cho mãi mãi, tôi đã không để hình ảnh khó chịu ấy lọt vào mắt mình lần thứ hai.

Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

trước cái chết là bầu trời trộn sắc


Những lúc suy nghĩ lung tung về thế giới, tôi luôn băn khoăn về mối liên hệ giữa lý thuyết và hiện thực. Đặc biệt khi mối quan hệ ấy nằm trong những nỗ lực cực thân của con người để tác động đến thế giới khách quan.

Có một sự thật là tôi không thể nào trở thành một kẻ-biết-tư-duy có khả năng tư duy khác với lề lối mà tôi đã được học. Tôi chỉ là một 'tôi' duy nhất với cách tư duy đó: phương pháp luận biện chứng duy vật - biện chứng và duy vật. Đó là một cánh cửa đóng chặt, nhưng chưa hẳn mang lại an toàn cho ngôi nhà đời sống luôn khát khao yên bình. Lịch sử chỉ cần 1, nhưng đời sống luôn đưa ra 1 vài, kinh nghiệm hay trường hợp, về cách người ta trở nên duy ý chí hoặc không đủ khách quan, chứng tỏ phương pháp luận đó là vô cùng khó khăn đối với những ai thích xưng danh bản thân cùng với nó. Ông ta bảo ông ta biện chứng và duy vật, nhưng ông ta bản chất chỉ là một hình thứ biến thái hỗn hào mạo danh.

Cực kì khó khăn!

Tôi không nhớ trong lịch sử, ai là người đẩy cho phép biện chứng duy vật cái trách nhiệm cải tạo thế giới nữa. Nhưng người đưa đẩy đâu có tội. Tội nghiệp là những người phải thực hiện cái công việc cải tạo thế giới, khoác trên mình cái áo ấy. Vì có lẽ họ làm không nổi. Tôi cũng làm không nổi, nên chẳng bao giờ tôi làm gì cả.

Diễn giải thì được, còn kiến tạo thì sao? Nhất là khi thứ phải kiến tạo là xã hội? Trong giới hạn kiến thức mà tôi được tiếp nhận, thì một trong những tính chất đầu tiên của xã hội là sự đa dạng - một trong những tính chất nội tại đầu tiên của bất kì cộng đồng người nào, của toàn thế loài người và cũng là của thế giới. Và tính chất ấy quyết định cái gì ở việc người ta kiến tạo nên xã hội loài người đầy phức tạp? Hình như, chính đa dạng làm nên phức tạp? Hẳn đó là cả một quá trình. Quá trình của sự hỗn tạp, luôn bủa vây và sẵn sàng tát vào mặt bất cứ kẻ nào có ý định làm thuần nhất thế giới theo chủ nghĩa 'cào bằng'. Nhiều người có ước vọng thể hiện tính chất thống nhất của thế giới một cách mãnh liệt, duy ý chí: thay vì 'đa dang và thống nhất' thì lại là '(đa dạng và) thống nhất'.

------------------------------------------------------------------------------------

Loanh quanh xa xôi như vậy, cũng là vì tôi tự thấy nản lòng với thứ mà trí tưởng tượng vẽ ra cho tôi xem: Một đám người tóc bạc lơ phơ nhảy xồm lên như muốn hét vào mặt, vì chủ nghĩa 'tập thể' của họ đã bị tôi bỏ qua trong vài cái công thức, vài cái hình vẽ. Tập thể của họ không còn là một thể thống nhất mà là một tập hợp từ vô số những người muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm.

Nhưng ít ra những người muốn sống sao thì sống ấy, tôi thấy có sẵn cái vẻ khách quan hơn!

Rồi với giọng điệu chua chát, những ông già bà cả 'lão làng' sẽ phang thẳng vào mặt tôi không thương tiếc yêu cầu của họ: Quản lí như thế nào? Tôi có biết đâu, vì tôi đâu phải là nhà cách mạng.

Thật ra thì... nếu người ta thành công ào ào với phương pháp biện chứng duy vật theo phong cách triết học đời sống thì tôi sẽ thành... bác học!

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

trai gái chim nhau (cái giá của một hạnh phúc) [18+]


Hạ đã sang, cô đi ra đường mặt hoa da phấn đầy đủ. Trong khi trời nắng thế, các chị các em cô chỉ muốn trú trong nhà, quấn mấy tầng che đậy để tránh nắng, tránh gó, thì cô lại ra đường và lại mặt hoa da phấn đầy đủ. Âu đó cũng là cái số, cô đi với người yêu. Người yêu của cô là trai. Chứ không lẽ gái à? Vâng, người yêu của cô là trai. Trai đấy!

Khi tay ấn lên má từng lớp phấn một, cô thấy lòng mình phơi phới. Cô mới qua cái tuổi 20 tròn thôi mà, cô trẻ. Bồi từng lớp phấn lên mặt, thoa kín son lên môi, có khi người ta còn tưởng cô 15 ấy chứ. Cô khúc khích cười. Cô thật là tài, cái tài trang điểm của cô còn giỏi gấp mấy lần photoshop. Cứ như thế thì... cái vẻ xấu xí mập mạp thường ngày có tài thánh cũng chả ai biết được. Cô khanh khách cười. Cả cái tuổi 20 ấy tràn ngập tiếng cười. Cô lại cười, cười giòn khi ngồi trong vòng tay của người yêu. Người yêu cô đẹp, người yêu cô sang, người yêu cô đứng (đái???) đắn đàng hoàng. Cô bồi hồi nhớ lại ngày hai đứa gặp nhau...

Ngày xưa ấy, cũng chẳng xưa nhiều nhặn gì đâu, nhưng bản thân cô thường tự bắt đầu như thế, đề cảm thấy cái hạnh phúc của mình dài hơn, lâu hơn. Cái ngày ấy, biết bao nhiêu công sức cô dồn lên khuôn mặt, cô nâng cái mũi tẹt của mình bằng phấn, cô kéo cái mắt to của mình bằng chì, cô xóa cái mặt lưỡi cày của mình bằng kem và tô cho bóng đôi môi bằng son đỏ. Biết bao nhiêu là công, biết bao nhiêu là sức, lượng công sức gấp mấy lần một cô ả 20 phải tiêu tốn. Cô chọn chiếc váy đẹp nhất, vừa khéo che đậy thân hình, vừa tiện đua đòi chúng bạn. Lại tự thấy thế là tốt nhất, muốn mặc quần ngắn khoe mông như thiên hạ cũng có được đâu, ôi, nhiều khi biết đủ thế là đủ. Và thế là cô đi ra đường.

Cô đi đâu, cô làm gì, ngày hôm ấy, cô không nhớ nữa, chỉ nhớ rằng ngày ấy cô đã gặp người yêu. Cái tình yêu nó nảy nở thần kì như ông tơ bà nguyệt đã se sẵn. Và thế là cô yêu, và thế là chàng yêu. Họ thành một cặp. Họ là người yêu. Họ là... mà hình như có cái gì không đúng? Nó nhanh thế, gặp rồi yêu à? Tiếng sét ái tình à? Có nhanh thế được không? Chưa chim nhau à? À! Phải rồi, họ đã chim nhau đâu? Mà thôi không sao? Cứ yêu đi, rồi chim sau chả muộn. Thế là họ yêu, và rồi họ chim.

Cái lí luận chim trai của cô nó là thế này: tốt gỗ hơn tốt nước sơn, yêu nhau yêu ở cái h(?)ồn nhau đây. Vì thế mà từ ngày có bạn trai, cô xưng chàng lên thành chồng và treo ngay cái bảng trung trinh tiết liệt, gái ngoan thờ chồng ra cho thiên hạ thấy. Cái bảng ấy như một mũi tên mà trúng hai, ba con chim nhạn gì đấy. Thứ nhất là cô để cho bạn trai cô thấy, cô yêu chàng thật, yêu điên đảo, yêu tới... để lên bàn thờ. Thứ hai là cho chúng bạn cô hiểu cô không lỡ thì, dù có kém duyên thì vẫn mặn mà, bao nhiêu con có được? Cái nữa là cho cả thiên hạ chúng nó thấy cô biết cách làm 'con gái' theo đúng cái nghĩa châu Á của từ đó. Sâu xa hơn nữa, mục đích ở đâu đó chính là tự mãn cho cái tôi của cô, thỏa mãn cho cái khao khát của cô và thủ dâm cái tinh thần của cô, rằng cô có người yêu, trai yêu cô. Ôi thế mới là hạnh phúc!

Sau lí luận là thực hành. Cô làm đủ cả. Tiếp tục trát phấn lên mặt, cô đi cùng anh tới chỗ này chỗ nọ, ngao du khắp cả đô thành. Đến mỗi nơi, cái trò dễ làm nhất đối với cô là chụp những tấm hình hạnh phúc, tươi cười. Cô gọi thức ăn, chọn những thức mà cô cho là ngon, là tuyệt. Cô thỏ thẻ với anh, như rằng cô rất tinh tế trong chuyện ăn uống. Ôi một cô gái có tâm hồn, anh còn muốn gì hơn thế nữa chứ? Cô biết thế nào là ngon, thế nào là chất. Có người yêu như thế thì anh phải gọi là sung sướng cả đời. Tới chết vẫn còn sung sướng. Còn cả cái bảng kia nữa chứ, cô đâu có tự treo riêng vào cổ mình, cô xỏ cả vào chân anh. Trai lớn rồi, mà không có người yêu thì thiên hạ họ cũng cười cho. Nên là có rồi thì tội gì không khoe ra. Cô đã làm giúp anh điều đấy. Mười phân vẹn mười!

Về phần anh chàng, cái tật chim gái đâu phải là mới, cũng đâu phải dễ bỏ. Anh chim là bởi vì anh mê, đã mê mà không chim thì anh cho là phí lắm. Ở đời, chim gái có cái thú riêng của nó. Chim gái mình mê để gái nó mê lại mình là cái thú thông thường. Chim gái mê mình mới là cái thú lạ. Nó như con mèo vờn chuột, lấy chân đè lên đuôi chuột. Chuột thật thì chuột chạy đi, còn đây là gái, càng đè càng níu nó càng theo mình. Bởi là gái, nên mới có cái lí thuyết riêng. Trong cái nghề chơi ấy, anh đã rành, có ngón nào mà anh không tỏ tường. Khéo léo một chút thì nó sẽ không nhận ra, bộ mặt Sở Khanh che đi, còn tâm hồn lương thiện lại được phô bày. Gái nó muốn mình đi chơi với nó, thì đi chứ tội gì. Ôm một tí, nựng một tí.

Từ cái má đến cái lưng nhìn thì có vẻ xa, cơ mà có đường tắt. Gái nào chả buộc áo ngực đằng lưng. Đường tắt ấy, anh đi thế này. Khởi điểm từ má, anh đi lên tai, rỉ vào đấy những lời mật ngọt, chất mật ngọt nhất, cô đặc sóng sánh, đến nỗi có thể bịt kín cả tai khiến không còn nghe được gì nữa. Rồi anh đi vòng ra sau cổ, là gáy đó mà. Nắm gáy thì ai chả sợ, phải ngoan ngoãn thôi. Làm cho nó tin tưởng một tí, đi với nó gặp bạn bè, ra mắt người này người nọ, miễn chưa phải ông bà già nó là ổn mà. Mình chịu gặp bạn nó, thì nó sẽ tin mình yêu nó thật. Gật đầu một cái nhận là người yêu thì có gì khó, có gì đáng tin? Đó là cái dại của gái mê trai. Anh luôn tự khen mình vì thấu được chân lí ấy. Nằm ở gáy người, dù có cầm dao mà người vẫn còn tin mình, thì con dao còn tàng hình tàng bóng. Đã tới gáy rồi, thì con đường đã đi quá nửa. Nuông chiều theo ý nó một tí thôi là kết thúc. Chịu đội mưa đội gió đi thăm em, đứng ở cửa mặt mày lấm tấm. Hay dật dờ say xe say sóng gì đó, đi một quãng đường mấy trăm cây số, mắt gió mày bụi nhìn em, em không yêu mới lạ. Em không xất bất xang bang lau lau thấm thấm nấu nấu nướng nướng vì anh mới lạ. Đấy đại khái tất cả chỉ mới là đường đi. Ai làm được vậy, gần như là đủ bài bản. Mà có khi gái lú gái lẫn nào đấy, gái tơ chẳng hạn, thì trai có thể cắt bớt mà không sợ kém hiệu quả!

Còn việc cởi áo thì tất phải cần ngón tay: đó là lại là lí thuyết của anh. Anh cứ dựng lên chuyện một đứa nào đấy, mê anh mà anh không mê, hay chuyện người yêu cũ gì đấy. Cứ thế, cứ thế, tất trong lòng người yêu mới sẽ thầm ghen. Ôi cái ghen của phụ nữ, nhiều khi kín đáo lắm. Càng ghen với tình địch, người yêu anh càng yêu anh hơn nhiều cái vốn có. Một người cũ rích, một người vu vơ, có đáng gì mà phải ghen. Nhưng anh biết em sẽ ghen cho nên anh mới đặt, mới bày. Nó cũng giống như thêm chút gia vị cho món ăn thêm đậm đà, là cái vị riêng mà mỗi quán ngon đều có để kéo khách quay lại. Cái khéo chính là ở ngón tay gia gia giảm giảm, thêm thêm bớt bớt. Cái tài chính là ở ngón tay ấp ấp mở mở. Dùng dằng thế mà anh ẵm được bao nhiêu nàng. Trong vết hằn vỏ não của ai đó ắt hẳn rồi sẽ in sâu dáng hình tấm thân anh. In sâu lên tận tóc cột sau đầu, xuống tận bờ eo mà nhờ chúng người ta gọi ai đó là phụ nữ.

Âu cũng lại là do số. Anh yêu ả mà ả cũng yêu anh. Lột sạch ra hết thì ai cũng tanh bành. Người nông nổi mà còn hay tính toán nên mới thành cái thú cho khán thính giả hôm rằm ngày lễ đi xem kịch nghệ sáng đèn. Ôi mà trong đời có ai biết được, trong bóng đêm cô tưởng anh là thằng nào đó. Anh tưởng cô mang cả phấn lên giường. Tay chân thành thừa thãi, đầu óc đã quay cuồng. Đó là một thể loại nghệ thuật khác, mà người ta không cần ra rạp: vừa là thành công, vừa là thất bại của bao nhiêu công sức điểm trang, bày biện trong toàn thế giới nghệ thuật nơi nhân loại này. Không, nhưng mà xem cái đó cũng vui, chỉ là không cần cười thôi!

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

sau lưng người đàn ông thất bại là người đàn bà xui dại


Chưa bao giờ tôi thấy người phụ nữ trong gia đình là quan trọng như lúc này. Đàn ông là phái mạnh nhưng thật ra lại bị đàn bà kiểm soát. Đi từ thế giới có người thân còn sống đến thế giới có người thân đã mất là một trải nghiệm rùng mình nhất. Tôi phải rùng mình vì tính nữ của thế giới này: sự õng ẹo, sự làm giá, sự chua ngoa và sự xâm chiếm của đàn bà. Những người đàn ông sống với nhau thật ra chỉ là con cờ trong ván cờ những người đàn bà đang chơi mà thôi.

Có câu chuyện thế này, cô vợ có tính bòn công bảo với chồng rằng đi nhờ  anh sửa cái bồn nước. Người nhà thì chắc chẳng công thợ gì nặng nề đâu. Người chồng đến nhà anh nhờ cậy, anh nhìn em không nói. Trong nhà có tiếng chân vọng ra: bịch bịch bịch. Người anh khe khẽ lắc đầu bảo hôm nay còn bận. Thế rồi chị dâu đon đả dọn cơm, bảo em ở lại chớ về. Ván này vợ trẻ thua vợ già. Cách tốt nhất để có được bồn cho con tắm là chi tiền ra, anh em có ruột nhưng mà vợ là cái khóa mở bằng tiền.

Ván cờ thứ hai ở cấp cao hơn, kịch tính hơn nhiều vì vốn dĩ còn 1 mẹ già là con sông bồi lở theo thời. Mẹ già thì đã già lắm rồi, đi chống gậy mà còn ngã, gân cốt chẳng dùng được nữa. Mẹ già vốn ở với ai thì người ấy được tiền. Mẹ là kho tàng không bao giờ cạn mà. Mẹ ở với em thì em được đất cất nhà. Mẹ ở với anh thì anh được quá biếu xén. Nhưng mẹ đôi khi không phải là trái ngọt. Trái có chín nhiều khi hãy còn chua. Mẹ bệnh thì em chẳng muốn trông, con dâu trẻ tay việc cơ quan tay quàng con nhỏ nên vợ chồng son đẩy mẹ lên vợ chồng già. Cái cơ duyên trời định khó ngờ vì chị dâu làm y tá. Thế thì thôi vợ em đã thắng. Mẹ nằm bệnh thì có hề gì, vẫn quà bánh đem đến thường xuyên, nhưng rồi vợ anh lại nghĩ lỡ mẹ chết ở chỗ mình thì sao. Lợi cho chúng nó quá. Một đêm trằn trọc.

Mẹ già sống thanh thản, sáng hôm sau khỏi bệnh. Ai mà ngờ được. Mẹ lại về với con với cháu... nhỏ. Thế là mẹ để tiền bạc quà bánh thập phương đem biếu lại nơi con lớn. Chị dâu mừng hú: tương lai thể nào mẹ cũng để lại sổ tiết kiệm hay chí ít thì cái nhẫn vàng. Chị đem ra nói với chồng. Chồng thương mẹ thì gắt, chị ôn tồn nhỏ nhẹ: thì mình cứ giữ hộ mẹ, nhỡ mẹ cần thì lại đem ra. Chính danh của mẹ nhưng con cầm hờ. Mẹ già ơi mẹ già, mẹ khi lở khi bồi làm ván này em dâu không đánh mà thua. Thế mới là kém phần phúc lộc của các cháu.

Thời gian dần qua, mẹ thì càng già, mà càng già thì càng yếu, như trái bóng xì hơi người ta đặt đâu nằm đấy, không tung tẩy đi được. Em dâu sắp đẩy được mẹ già già tấn trách nhiệm lên cho chị dâu, thì anh chồng lăn đùng ra chết. Một cái chết sững sờ đầy đau đớn. Mẹ thương con lá xanh rơi trước lá vàng. Em giật mình gia đình mình có gene ung thư ác tính. Con dâu lớn ra vào như hình nộm, bần thần mất hết linh hồn. Con dâu nhỏ đau đáu nổi sợ mê tín, sợ mẹ già chịu đựng không thấu mà tắt thở thì hết làm ăn. Thế là các bà vợ lại chơi một ván bài mới.

Thôi thì mẹ thương anh, mẹ lên ở nhà anh mà thắp hương cho anh, làm chỗ dựa cho chị. Con dâu nhỏ một phát đẩy mẹ chồng lên nơi đau đớn khi tinh thần mẹ già lẫn thẫn. Con dâu lớn tay bế con tay nâng mẹ, mắt thì khóc, đầu thì chào. Người viếng ra vào nườm nượp. Con dâu nhỏ tay nước tay khăn lau dọn tiếp đãi đầy vẻ ân cần. Một nhà đầy nước mắt, tay em giỏi tay em đầy li tách. Chợt nghĩ thế chưa trôi, em dâu bảo chồng ra tỏ vẻ người đàn ông. Chết cha còn chú, chết mẹ bú dì, để chú giúp nuôi cháu còn thơ dại. Nhà chú giờ cũng neo người, không có công thì thôi có của, cháu cần ăn học chú sẽ lo.

Không sợ, quả là cháu không sợ, chú không sợ, vợ chú không sợ, vợ bác không sợ, không sợ gì cái khó, cái khổ. Thế nhưng mẹ già lại sợ. Mẹ già trộm nghĩ đến mình ngày xưa, khi mang nặng đẻ đau, nuôi con nát xương lòi da ra, mẹ già đây phải vì già mà ra bã. Mẹ sợ chị trúng kế em, con trai mang tiếng đần nên mẹ phải tính. Cuối cùng thì mẹ giật cả bàn cờ vào nước. Mẹ bảo mẹ buồn đứt cả ruột gan, mẹ không muốn ở với đứa nào nữa, nhìn con nhìn cháu rồi nhớ rồi quên, nên mẹ vào dưỡng lão. Tiền bạc còn bao nhiêu từ nay về sau mẹ cho nhà nước, chia cho người nghèo, người khổ, người già, trẻ mồ côi. Rồi người ta nuôi mẹ đến chết, lo áo quan mộ huyệt, các con không cần thết cỗ trăm ngày. Mẹ nói rồi mẹ làm thật. Thế là đứt cả tơ lòng.

Em dâu ngồi hận cái miệng hại cái thân, lỡ hứa cho cháu rồi thì giờ còn mỗi hạt máu cũng phải chia. Vốn dĩ định bỏ đi con săn sắt mà bắt con cá rô, mẹ đang ở với mình bỗng có hắt hơi nhảy mũi thì một chuyến ô tô là lên nhà chị. Bây giờ mẹ đi, tiền thành phung phí. Phí ơi là phí! Còn chị về đêm ngồi trước bàn thờ chồng mặt mũi bơ phờ mà lòng mang cả bồ suy tính. Chị tính không thể để chồng chị mất mạng mà mất cả danh dự quý hơn bạc vàng. Chị tính cả đời mình núp bóng chồng mà tô vẽ, giờ chồng chết cũng không thể vì thế  mà chơ vơ. Thế là chị quyết, kì này chị cho vợ chồng cô chú biết anh có chết thì chị hãy còn thiêng. Tháng tháng, ngày ngày, cúng chay, cúng mặn, cỗ bàn nho tỏ, chị đều để phần gửi về cho nhà cô chú. Ấy là phép lịch sự mà chị học ở chồng, chắc khéo cho người ta biết mình vẫn mong một bề nương tựa. Anh em quý ở tấm lòng chứ không phải vài đồng tiền nhỏ, một khoản chi to. Cháu nó còn bé như gạo tẻ phải nấu mới thành cơm, đó là cả một quá trình. Một bước đi bất thình lình mà vợ em thua về mãi mãi.

Còn phần mẹ già, trước khi đi mẹ tới bàn thờ con mà khóc. Mẹ thương con, mẹ thương mình. Cũng vì vậy nên mẹ phải làm hết sức. Mẹ đâu để chúng mày xỏ mẹ. Mẹ khấn thế này: Con ơi con, mẹ vẫn còn tinh lắm, hệt ngày xưa, không tinh thì ngày xưa làm sao tao quản được thầy mày, quản cả chúng mày hả con!

Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2012

sống như vậy, chết mang đi

Trưa hừng hực. Trong phòng có hai người, một già và một trẻ. Già là bà, còn trẻ là cháu.

Bà già năm nay đã già lắm rồi, chắc cũng sắp trăm tuổi. Tóc của bà chưa bạc trắng hết. Cái gốc gần da đầu vẫn đen đen, nhưng mài tóc thì mỏng lắm rồi. Bà búi lên chỉ được bằng một nắm tay con nít. Bà đang nằm lim dim mắt. Không thể biết bà ngủ chưa vì thỉnh thoảng những ngón tay lại khẽ động đậy. Bà nằm co ro mà yên ắng lắm.

Thằng cháu sắp đôi mươi, trẻ và khỏe. Thường là nó đi học rồi đi làm cả ngày, đâu được mấy buổi trưa thảnh thơi. Lúc này nó đang ngồi trên chiếc ghế có tựa. Lưng duỗi ra theo tư thế nghỉ ngơi, tay cầm một cuốn sách mỏng. Mắt đọc chậm chạp qua các dòng trong ánh sáng mờ mờ hắt vào từ cửa sổ. Trời chả có cơn gió nào, oi bức vì mùa hè đang ập đến.

Bỗng thằng cháu gấp cuốn sách lại. Gáy sách chạm vào ghế kêu cạnh một tiếng. Thứ âm thanh đó nhỏ thôi nhưng cùng lúc đó bà mở mắt nhìn. Có lẽ đó chỉ là sự tình cờ. Bà già nhìn một lúc, hỏi: "Mày không ngủ đi à?" Thằng cháu chưa kịp đáp thì bà lại ôn tồn: "Không ngủ thì lại đây nằm, nhắm mắt lại. Người ta gọi đấy là 'dưỡng mục' đấy con ạ." Rồi bà già nhắm đôi mắt trở lại.

Thằng cháu cất tiếng hỏi nho nhỏ. "Bà biết truyện 'Hồn Trương Ba, da hàng thịt' chứ ạ?"

"Ừ, truyện cổ tích ấy mà. Truyện cổ tích..."

"Có cái ông nhà văn dựng nó thành kịch đấy bà ạ. Cũng lâu rồi nhỉ. Bà đã xem cái kịch ấy chưa?"

"Kịch à? Ngày xưa tao có bao giờ được thảnh thơi đâu mà phim với chả kịch. Chẳng có tiền ra xi nê nữa kìa." Thằng cháu nhìn bà chăm chú từ lúc nãy. Mặt bà có vẻ là đang buồn ngủ lắm, đang chìm trong giấc ngủ, nhưng giọng nói thì linh hoạt, tỉnh táo. Nó không định hỏi nữa, quay đi.

"À mà hình như tao có nghe trên đài rồi thì phải. Cũng lâu lắm rồi. Chả còn nhớ rõ. Thế đại để nó ra sao, mày nói tao nghe xem nào." Bà già vẫn nói bằng thứ âm thanh dìu dịu, ấm áp. Thằng cháu quay lại nhìn. Nó thấy bà đang phe phẩy chiếc quạt giấy tím rịm. Đó là thứ quạt người ta thường bán ngoài chợ, nhà ga, bến xe. Tự dưng nó ngạc nhiên hết sức. Không hiểu bà lấy đâu ra cái quạt đó nhỉ, vừa rồi nó không thấy bà cầm.

Thế là nó kể sơ sơ cái vở kịch mà ông nhà văn dựng lên. Cảnh đầu là chốn thiên đình mấy gió có hai ông Nam Tàu, Bắc Đẩu, sau là chuyện ông Đế Thích tiên cờ, lần lượt, lần lượt đến hết. Nó vừa kể vừa hình dung ra nơi sân khấu, hình dung tới các ông tiên bà thánh, hình dung ra cái đau khổ của ông Trương Ba, cái mắt đảo điên của anh hàng thịt... Còn bà già thì đôi mắt vẫn nhắm nghiền, bàn tay vẫn phe phẩy.

"Thế là cuối cùng ông Trương Ba chết thật. Anh hàng thịt chạy vội về nhà." Thằng cháu kể xong lại hỏi: "Bà thấy cái kịch ấy có hay không? "

Bà im lặng một lúc, bảo: "Đúng là cái thuở ấy khổ thật, chỉ biết làm rồi ăn. Giặc giã đến là khổ. Cái ông nhà văn ấy tên gì mày nhỉ? Vẽ thêm cái hậu cảnh thế cũng là tài lắm rồi."

"Lưu Quang Vũ bà ạ. Ông ấy tài lắm, tiếc là chết vì tai nạn ô tô. Vợ con chết chung cả."

"Phạm thánh mà, nên thánh quở cho. Bắt phải chết. Mày nhớ lấy, đừng có mà phạm thượng, khinh miệt thánh thần. Các thần ở khắp mọi nơi. Trên giời có các vua cha, có Mẫu, đều thương người, lại thần thông lắm." Bà già xuýt xoa. "Nhưng mà chửa biết là ông ấy chết hay là về lại cõi giời đâu con ạ. Thường người tài hoa như thế chả phải là người trần cục mịch, tầm thường." Bấy giờ vẻ mặt bà đã hết buồn ngủ. Đôi mắt nheo nheo nhìn đứa cháu.

"Thế người ra sao thì là tầm thường, cục mịch hả bà?" Thằng cháu cảm giác rộn rạo trong lòng, băn khoăn tràn lên vẻ mặt.

Bà già thấy vậy cười hà hà, nói: "Thì như tao với mày đây này. Ngày xưa tao chỉ biết lo kiếm tiền nuôi bố với các chú mày. Đầu lúc nào cũng phải tính toán, vặn hết cách hết đường mà sống. Có bao giờ thấy vui vẻ thanh thản đâu."

"Ông nhà văn cũng nào có thanh thản đâu bà."

"Người thanh thản thì thế gian để truyện, để tích lại con à. Còn ông ấy là người giời đấy, xuống đây dạy bảo cho con người cái đạo lí, cách sống."

Thằng cháu ngớ ra. Có phải vì bà già quá, đâm ra lẩm cẩm nên mới nói như vậy. Chứ nó đọc thấy cái ông nhà văn ấy sống khổ ơi là khổ, cơm áo gạo tiền chả sung sướng. Mà cái tinh thần của các ông nhà văn nào có yên bình gì. Nó bỏ dở câu chuyện của bà, nói sang hướng khác: "Cháu không biết nữa. Cháu chỉ thấy ngoài ông ấy ra chẳng ông nào đi viết khúc sau của chuyện cổ tích cả. Mà thật ông ấy tài, lựa đúng cái truyện viết được. Như Tấm Cám xong chuyện là hạnh phúc, có gì nữa mà viết."

"Ừ, thì tao bảo rồi, chỉ có người giời mới dám viết về giời thôi. Ai cũng viết thì hỏng bét cái đạo của giời đi à. Ngày xưa cậu* tao để tao theo đạo Thiên chúa đấy, nhưng rồi đạo giời vẫn là đạo lí ở cái nước này con à. Lúc trước người ta chống mê tín lắm đấy, tao cũng biết thế nào là mê tín đấy nhé. Nhưng mà cái đạo lí của tổ tiên ta ngày xưa thì sao là mê tín được..." Bà già nói tới đó thì ngập ngừng, như nghĩ điều gì đó. Rồi bà phất phất tay ra hiệu: "Mà thôi nói nữa mày cũng không hiểu. Ấy sắp chiều rồi kìa, mày có đi đâu thì đi kẻo muộn."

"Ô, vâng ạ." Thằng cháu như đang mê man bỗng tỉnh ra, vội thay quần áo, xách xe ra ngoài. Tiếng xe nổ máy, thằng cháu đã đi, chỉ còn một mình bà già nằm trong phòng. Bỗng bà lẩm bẩm: "Chúng nó sống khác mình rồi. Chết mang đi, chết mang đi..."

Trời vẫn đang nóng lắm. Nắng có phần gay gắt hơn trưa.

* cậu: một cách gọi cha thời đầu thế kỉ trước

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

Truyện Quận công Lang và vua Tương Dực

Nghĩa Huân vương Lang khi vua Uy Mục lên ngôi đang giữ tước Nghĩa Quận công, là một đại thần trụ cột trong triều bấy giờ. Ông được người đời khen là "thông thao lược, giỏi binh pháp, khéo xem xét thiên thời, sức khoẻ có thể bắt được hổ". Ấy vậy mà không bao lâu sau, ông cùng các tông thất và đại thần khác bị Uy Mục đuổi về quê Thanh Hóa. Uy Mục sát hại bà tổ mẫu tức Trường Lạc Hoàng hậu của vua Thánh Tông, chị của Quận công Lang, khiến ông càng thêm đau xót.

Lê Năng Cẩn là tông thất nhà Lê, thấy quyền hành trong triều bỗng chốc rơi vào tay ngoại thích thì không hài lòng, có viết một bài thơ gửi cho Quận công khuyên "giết hết bè đảng bạo nghịch". Ông bèn nghe theo mà tụ họp nhân dân ba phủ của xứ Thanh hội thành quân, chiếm Tây Đô rồi đóng ở cửa biển Thần Phù, chờ đợi thời cơ tiến về kinh đô.

Đấy cũng là lúc Giản Tu công Lê Oanh dùng châu báu hối lộ cho quản ngục mà trốn thoát khỏi sự bức bách của Uy Mục. Giản Tu công cùng bề tôi lưu lạc không lâu cũng vào tới Tây Đô. Quận Công gặp được người trong vương thất thì mừng rỡ, thấy Lê Oanh bấy giờ có đức có tài bèn lập làm minh chủ. Thân thế quân đội càng thêm hùng dũng.

Tháng 11 năm 1509, khi lực lượng đã đủ, thân thế đã lớn, Giản Tu công Oanh cùng Văn Lang giả danh Cẩm Giang vương Lê Sùng lập cờ chiêu an, tiến về Đông Đô. Uy Mục hay tin liền cho bắt Lê Sùng cùng mẫu thân của Oanh mà giết. Nhưng mệnh của Uy Mục đã hết. Cuối năm đó quân của Lê Oanh tiến sát kinh thành, Uy Mục trốn ra Yên Lãng bị dân bắt nộp cho Quận công Lang. Quận công đem ra quán Bắc Sứ giết chết. Lê Oanh còn sai dùng súng bắn tan xác Uy Mục để báo thù cho anh và mẹ.

Giết được "vua quỷ", Giản Tu công Lê Oanh lên ngôi lấy niên hiệu Hồng Thuận. Đó chính là Tương Dực Đế. Quận công Lang, các tông thất và đại thần cũng được mời trở lại triều mà giúp việc cho vua. Những tưởng vua anh minh, nào ngờ sau khi có được giang sơn, Tương Dực không màng chính sự, chỉ lo chơi bời xa xỉ. Vua sai Vũ Như Tô xây điện trăm nóc, xây Cửu Trùng Đài làm kiệt quệ ngân khố, hao tổn sức người. Vua còn hoang dâm vô độ, khiến bá quan văn võ đại thần đều nản lòng, buồn bã. Đông Các Đại học sĩ Lương Đắc Bằng là quan thần trụ cột nhiều đời dâng lên "Trị bình thập tứ sách" gồm mười bốn điều, Tương Dực khen phải nhưng không thi hành. Đắc Bằng cáo quan về ở ẩn.

Nhân dân khắp nơi bắt đầu nổi dậy, Quận công Lang lại vì vua mà đi dẹp loạn. Năm 1511 dẹp được Trần Tuân ở Sơn Tây. Quận công Lang là bề tôi trung thành, ra sức khuyên cản vua. Vua trọng và biết ơn Quận công, không dám trách tội nhưng cũng không nghe khuyên. Một lần vua nói với Quận Công: "Trẫm không tốt ư? Triều đình không tốt ư? Không tốt thì làm sao từ Thái Tổ Hoàng đế đến nay non sông được như thế này. Quận công chớ lo, mai kia Cửu Trùng Đài xây xong rồi, trẫm sẽ cùng Quận công và bá quan lên đài thưởng tửu bình thi."

Từ đấy Quận công Lang biết mình không làm được gì nữa. Bốn năm sau khi Tương Dực lên ngôi, Quận công qua đời. Vua thương nhớ truy phong làm Nghĩa Huân vương. Tương Dực còn ở ngôi được thêm ba năm nữa. Giặc Trần Cảo nổi lên đã ép sát kinh đô thế mà vua không để ý. Đến năm 1516, có vị Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản bất mãn, bàn với các quan muốn lập vua khác, sáng mùng 7 tháng 4 lẳng lặng mang binh vào thành giết vua. Tương Dực chết mà vẫn chưa được thấy Cửu Trùng Đài.

11 tháng 2 Nhâm Thìn.